Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT HỌ BÙI XÃ ĐỨC ĐỒNG

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT HỌ BÙI XÃ ĐỨC ĐỒNG
ĐỨC THỌ HÀ TĨNH

Từ gia phả Hán nôm Cụ Bùi Đức Thư, Trưởng tộc đang lưu giữ
cùng tư liệu của các ông Bùi Xuân Đằng và Bùi Sỹ Cơ
 
     Văn bản liệt kê tất cả thế thứ đến đời thứ 13. Trong một đời thứ tự Trưởng-Thứ là Trái-Phải.

1.Đời thứ nhất: Thuỷ Tổ: Bùi Duy Hiển, một chi của Bùi tộc xã Đức Long, gốc từ Thái Bình.
2.Đời thứ 2, Bùi Duy Khương, Bùi Duy Vọ (con Bùi Duy Hiển).
3.Đời thứ 3, Bùi Duy Liêm (con Bùi Duy Khương); Bùi Duy Du (con Bùi Duy Vọ)
4.Đời thứ 4, Bùi Sỹ Ninh, Bùi Sỹ Trường (con Bùi Duy Liêm); Bùi Duy Diên (con Bùi Duy Du)
5.Đời thứ 5: Bùi Sỹ Đồ (con Bùi Sỹ Ninh); Bùi Sỹ Thi (con Bùi Sỹ Trường); Bùi Hữu Ý, Bùi Hữu Thương, Bùi Hưng Học, Bùi Duy Chí (con Bùi Duy Diên)
6.Đời thứ 6, Bùi Sỹ Chung, Bùi Sỹ Khánh (con Bùi Sỹ Đồ); Bùi Sỹ Cử, Bùi Sỹ Hy (con Bùi Sỹ Thi); Bùi Hưng Chính, Bùi Đăng Bạt, Bùi Hữu Hiến (con Bùi Hữu Ý); Bùi Đình Cẩn, Bùi Đình Thỉnh (con Bùi Hưng Học), Bùi Duy Tường, Bùi Duy Hưng, Bùi Duy Kính, Bùi Duy Ưng, Bùi Duy Dung (con Bùi Duy Chí). Cánh Bùi Duy Chí (thuộc can Lộc, can Tấn) có gia phả riêng.
7.Đời thứ 7, Bùi Sỹ Cơ (con Bùi Sỹ Khánh), Bùi Thúc Ngật được phong phúc thần thờ tại đền Hàng Tổng (con Bùi Sỹ Cử); Bùi Văn Đoan (con Bùi Sỹ Hy); Bùi Văn Giáp, Bùi Văn Vận, Bùi Văn Chí, Bùi Văn Chấp, Bùi Hữu Các (con Bùi Hưng Chính); Bùi Đăng Khoa, Bùi Đăng Xanh, Bùi Đăng Thọ, Bùi Huy Đỉnh (con Bùi Đăng Bạt); Bùi Hữu Du, Bùi Hữu Đa (con Bùi Hữu Hiến); Bùi Đình Đào, Bùi Đình Đao, Bùi Đình Quê (con Bùi Đình Thỉnh)
8.Đời thứ 8, Bùi Văn Cơ (con Bùi Sỹ Cơ); Bùi Văn Thìn, Bùi Văn Nho, Bùi Văn Vỵ, Bùi Văn Hào  (con Thần Bùi Thúc Ngật); Bùi Văn Toàn (con Bùi Văn Đoan); Bùi Đình Dự, Bùi Đình Nhạ, Bùi Đình Y (con Bùi Văn Giáp); Bùi Đình Ưng (con Bùi Văn Vận); Bùi Đình Đố, Bùi Đình Phong, Bùi Đình Dũng (con Bùi Văn Chí); Bùi Danh Viện, Bùi Danh Xuy (con Bùi Đăng Khoa);.Bùi Đình Du, Bùi Đình Đàm, Bùi Đình Niệm (con Bùi Hữu Du);.Bùi Hữu Hùng, Bùi Hữu Dục, Bùi Hữu Hộ, Bùi Hữu Nha (con Bùi Hữu Đa);.Bùi Đình Đàn, Bùi Đình Tiêm, Bùi Đình Lân, Bùi Đình Cung (con Bùi Đình Quê).
          Đời thứ 8, Bùi Hữu Hộ (con Bùi Hữu Đa) có gia phả riêng thuộc chi Can Căn.
9.Đời thứ 9, Bùi Văn Dần, Bùi Văn Nhàn (con Bùi Văn Cơ); Bùi Duy Hinh, Bùi Duy Minh (con Bùi Văn Hào); Bùi Văn Phổ, Bùi Văn Bát, Bùi Văn Nghị, Bùi Văn Xuân (con Bùi Văn Toàn); Bùi Đình Sự (con Bùi Đình Dự); Bùi Đình Phần, Bùi Đình Điện (con Bùi Đình Ưng); Bùi Đình Huy, Bùi Đình Đáp, Bùi Đình Trị, Bùi Đình Dân, Bùi Đình Phong (con Bùi Đình Dũng); Bùi Đình Đạo (con Bùi Đình Niệm); Bùi Hữu Sắc, Bùi Hữu Phó, Bùi Hữu Chuẩn, Bùi Hữu Nghiêm (con Bùi Hữu Dục); Bùi Đình Phó, Bùi Đình Thuần, Bùi Đình Dung, Bùi Đình Trác, Bùi Đình Trung; Bùi Đình Vinh (con Bùi Đình Đàn); Bùi Đình Kiên, Bùi Đình Tương (con Bùi Đình Tiềm).
10.Đời thứ 10, Bùi Đình Thuỵ (con Bùi Văn Nhàn); Bùi Văn Phong (con Bùi Duy Hinh); Bùi Văn (con Bùi Văn Phổ); Bùi Lan (con Bùi Văn Bát); Bùi Xanh (con Bùi Văn Xuân); Bùi Đình Hệ, Bùi Đình Vệ (con Bùi Đình Sự); Bùi Đình Hưng (con Bùi Đình Phần); Bùi Đình Sỵ (con Bùi Đình Trị); Bùi Đình Bành, Bùi Đình Kiên (con Bùi Đình Đạo); Bùi Hữu Tự (con Bùi Hữu Sắc); Bùi Đình Hoan, Bùi Đình Huyên (con Bùi Hữu Phó); Bùi Hữu Nguyên (con Bùi Hữu Chuẩn); Bùi Đình Nguyên, Bùi Đình Hiến, Bùi Đình Liên, Bùi Đình Quyên, Bùi Đình Liên (con Bùi Hữu Nghiêm); Bùi Ngọc Cư, Bùi An, Bùi Biên (con Bùi Đình Trác); Bùi Đình Hảo (con Bùi Đình Kiên)
11.Đời thứ 11, Bùi Văn Khai, Bùi Văn Hạp, Bùi Văn Phiệt (con Bùi Đình Thuỵ); Bùi Văn Tốn, Bùi Văn Nhượng, Bùi Văn Doạn (con Bùi Văn Phong); Bùi Hương, Bùi Hội, Bùi Trạc (con Bùi Văn); Bùi Nguyên (con Bùi Lan); Bùi Đình Ban, Bùi Đình Bưu (con Bùi Đình Bành); Bùi Đình Long, Bùi Đình Châu, Bùi Đình Tập, Bùi Đình Cu (con Bùi Hữu Tự); Bùi Đình Phần, Bùi Đình Thành (con Bùi Đình Hoan); Bùi Hữu Đoài (con Bùi Hữu Nguyên); Bùi Vĩnh Triêm, Bùi Vĩnh Tiêm (con Bùi Đình Hiến); Bùi Hữu Bích, Bùi Hữu Tường (con Bùi Đình Liên); Bùi Đình Quyền, Bùi Đình Đào (con Bùi Đình Quyên); Bùi Chiến, Bùi Hữu Phương (con Bùi Đình Biên); Bùi Lân, Bùi Long, Bùi Xán, Bùi Lạn (con Bùi Ngọc Cư); Bùi Hữu Tư, Bùi Hữu Mại, Bùi Hữu Dung (con Bùi Đình Hảo)
12.Đời thứ 12, Cánh tộc Bùi Hữu Dục (con Bùi Hữu Đa) được liệt kê đầy đủ:
Bùi Văn Thông, Bùi Đức Thư, Bùi Xuân Tác (con Bùi Văn Phiệt); Bùi Văn Cung (con Bùi Văn Doạn); Bùi Thường, Bùi Cu (con Bùi Trạc); Bùi Nho (con Bùi Nguyên); Bùi Thi (con Bùi Đình Ban); Bùi Đình Tuỳ, Bùi Đình Thuỳ, Bùi Đình Vy (con Bùi Đình Bưu); Bùi Đình Lan, Bùi Đình Thại, Bùi Đình Năm (Bùi Hanh) (con Bùi Đình Long); Bùi Hạnh, Bùi Đàn, Bùi Thân, Bùi Dung, Bùi Mười, Bùi Hoà (con Bùi Đình Tập); Bùi Cận, Bùi Lai, Bùi Dao (con Bùi Vĩnh Triêm); Bùi Duyên, Bùi Phổ, Bùi Hải, Bùi Thiêm (con Bùi Vĩnh Tiêm); Bùi Ngạc, Bùi Tịnh, Bùi Ngụ, Bùi Huấn, Bùi Hớn (con Bùi Hữu Bích); Bùi Thưởng, Bùi Mông, Bùi Tung, Bùi Bảy (con Bùi Hữu Tường); Bùi Lệ (con Bùi Hữu Quyên); Bùi Đường, Bùi Thụ (con Bùi Hữu Đào); Bùi Biện (con Bùi Chiến); Bùi Văn Khâm (con Bùi Hữu Phương); Bùi Đặng, Bùi Đắc (con Bùi Lân); Bùi Giáo, Bùi Ngọ, Bùi Tuất, Bùi Thìn (con Bùi Long); Bùi Thảo (con Bùi Xán); Bùi Thao, Bùi Lược (con Bùi Lạn); Bùi Đình Thưởng, Bùi Đình Vận, Bùi Đình Mại (con Bùi Hữu Tư); Bùi Hữu Bát (con Bùi Hữu Dung).
12.Đời thứ 13, Cánh tộc Bùi Hữu Dục (con Bùi Hữu Đa) được liệt kê đầy đủ:; Bùi Văn Chất (con Bùi Văn Thông); Bùi Xuân Thái (con Bùi Đức Thư); Bùi Hữu Dụng, Bùi Xuân Vinh (con Bùi Xuân Tác); Bùi Văn Hàn, Bùi Văn Cầm, Bùi Văn Phiên (con Bùi Văn Cung); Bùi Hoà, Bùi Bốn, Bùi Năm (con Bùi Cu);.Bùi Cúc, Bùi Huệ, Bùi Lập (con Bùi Đình Lan);.Bùi Mơi, Bùi Cẩn (con Bùi Đình Thại);.Bùi Trinh (con Bùi Hanh);.Bùi Xuân Sơn (con Bùi Hạnh);.Bùi Át, Bùi Yết, Bùi Ái, Bùi Ngụ (con Bùi Đàn);.Bùi Xước, Bùi Đề, Bùi Thiện, Bùi Miên, Bùi Luyện, Bùi Thuần, Bùi Vỵ (con Bùi Thân);.Bùi Đăng (con Bùi Dung);.Bùi Sỹ Nê, Bùi Trì (con Bùi Mười);.Bùi Cừ, Bùi Dư, Bùi Trừ, Bùi Thứ (con Bùi Cận);.Bùi Viện (con Bùi Lai);.Bùi Tương, Bùi Lương (con Bùi Dao);.Bùi Trân, Bùi Sáu, Bùi Bảy (con Bùi Duyên);.Bùi Tân, Bùi Tứ (con Bùi Phổ); Bùi Ngụ, Bùi Bảy, Bùi Điền (con Bùi Hải);.Bùi Phùng, Bùi Ngụ (con Bùi Thiêm);.Bùi Các, Bùi Quỳ (con Bùi Ngạc);.Bùi Lân, Bùi Mạnh (con Bùi Ngụ);.Bùi Thuỳ, Bùi Bốn, Bùi Van, Bùi Phúc (con Bùi Huấn);.Bùi Anh (con Bùi Hớn);.Bùi Vượng, Bùi Dự (con Bùi Thưởng);.Bùi Học, Bùi Tứ (con Bùi Mông);.Bùi Huỳnh (con Bùi Tung); Bùi Tại, Bùi Cường, Bùi Quyền (con Bùi Bảy);.Bùi nghị (con Bùi Lệ);.Bùi Chương, Bùi Hạ, Bùi Bình (con Bùi Đường); Bùi Trọng, Bùi Hội (con Bùi Thụ). 

TRAO ĐỔI VIỆC BIÊN SOẠN GIA PHẢ

TRAO ĐỔI VIỆC BIÊN SOẠN GIA PHẢ
                                                                                                                        BÙI XUÂN VỊNH
     Soạn gia phả là một trong những nội dung cốt lõi của hoạt đồng dòng họ. Ở các dòng họ nói về gia phả, thường nghĩ và xem cha ông truyền lại gì. Gia phả do ông cha để lại, được tộc trưởng bảo quản tốt, lưu giữ đến nay khai thác được, không có nhiều. Đó không chỉ là lỗi của từng chi tộc, từng trưởng họ mà còn của cả xã hội, cả chủ quan và khách quan. Một thời kỳ dài dân tộc ta chỉ lo đấu tranh để sinh tồn mà chưa có điều kiện quan tâm đến văn hoá dòng họ và hệ thống văn bản lưu trữ về nó, chỉ cố giữ lại được phong tục tối thiểu về quan hệ họ hàng thông qua truyền miệng. Lại cả một thời kỳ dài hơn của lịch sử đất nước nghìn năm bắc thuộc, kho tàng văn bản lịch sử bị phong kiến ngoại bang tiêu huỷ hết, hơn chín trăm năm đất nước qua nhiều triều phong kiến có hưng, có suy, có nội chiến và ngoại bang xâm lược liên miên, vật chất và di sản văn hoá bị huỷ hoại không ít. Chờ, mong ở kho văn bản hán nôm (đã thu thập hoặc đang rải rác đó đây trên các bia ký đình chùa đền miếu…) lần ra các mối liên hệ về họ tộc để làm gia phả thật là một việc vô cùng khó khăn, quá ít hy vọng và chưa biết đến bao giờ tìm kiếm được cái gì. Vậy các chi họ làm gia phả ngay từ bây giờ, càng nhiều người làm, làm liên tục không mệt mỏi ngày này đến tháng khác trong phần thời gian trích ra của trăm công nghìn việc thường nhật mỗi người may ra mới lần lượt có các gia phả.
     Soạn gia phả thế nào? Xin mạnh dạn trao đổi việc mình theo đuổi hơn 6 năm nay, mong được mọi người bàn, góp, bổ sung và cùng làm. Khi bắt đầu, tôi tự vạch chương trình: Dựng một sơ đồ đầy đủ tên từng người từ trên xuống như: từ kỵ, cụ, ông, cha… cho đến mình sao cho vừa ý, sau đó viết thuyết minh sơ đồ, cuối cùng viết quyển hoàn chỉnh. Theo kế hoạch này, tôi bắt tay làm gia phả họ mình từ cuối năm 2004. Vì “sốt ruột” muốn biết đến cội nguồn và quan hệ “chính xác” của mình càng xa càng tốt, tôi đã bỏ nhiều thì giờ hỏi han các cụ, tìm kiếm sử sách huyện, tỉnh, quốc gia, vẽ đi lại nhiều lần mới tạm dng xong (vẫn còn băn khoăn) một sơ đồ ô vuông phả hệ 27 đời (trên khổ giấy khá lớn) kể từ Thuỷ tổ làm quan đầu nhà Trần. Tôi đã viết thuyết minh giới thiệu sơ đồ và đang bắt đầu viết quyển.
     Bắt tay viết quyển là mắc mớ ngay. Tư liệu về các cụ tổ từ xưa không lần đâu ra. Tôi bắt đầu viết từ ông bà mình-chú bác cô dì của mình, sau đó đến cha mẹ mình, tiếp đến anh chị em mình, các con của mình, đến các cháu của mình. Cứ mỗi người viết tên, năm sinh, nghề nghiệp, trình độ, công danh sự nghiệp với gia đình, quê hương, đất nước, các cụ đã mất thì viết năm mất, ngày giỗ. Viết (không chuyên) xong quyển 17 đời ở xã mình (chưa tính đến 10 đời ở trên) tôi tính không dưới vài ba năm.
     Theo cách của tôi, có sơ đồ trước, sớm hình dung được nhưng quyển thì chưa có. Không thể là cách làm hay. Không hiểu các chi họ đã viết gia phả thế nào. Có lẽ cứ viết năm sáu đời trở xuống như việc tôi đang bắt đầu viết quyển là phù hợp, dễ làm, ai cũng có thể làm được. Họ trên 15 đời như xã tôi, sẽ phải viết nhiều cành 5,6 đời, sau đó ghép lại và viết lần lên trên.
     Bằng cách viết 5, 6 đời sau đó sơ đồ hoá (hoặc làm ngược lại), các ông ở tuổi ngũ lục thập dễ viết được gia phả 5 đời của mình. Các cụ tuổi thất bát thập nếu đã có chắt, dễ viết được gia phả 6 đời. Là cách dễ làm, làm ngay được, kính đề nghị các Ông, các Cụ quan tâm, không trực tiếp viết thì gọi con cháu đến hàng ngày đều đặn nửa giò hoặc 1 giờ kể ra để con cháu ghi lại. Hiện nay ở các cửa hàng sách lớn thường có bán các quyển sách mẫu để viết gia phả.
     Dựng sơ đồ trước, chỉ năm sáu đời thôi, là lối làm dàn ý trước khi viết. Cái khó của làm sơ đồ nhiều đời là ở khuôn khổ tờ giấy. Để làm sơ đồ nhiều đời hợp khổ giấy bé, nên phân ra nhiều sơ đồ 5, 6 đời rồi ghép lại. Cây gia phả là loại cây ngược, gốc ở trên, cành ngọn ở dưới. Chỉ năm sáu đời thôi thì các kiểu vẽ sơ đồ ô vuồng, dọc hay ngang, đều thể hiện trên khổ giấy A4 được đủ tên tất cả thế thứ.

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ MỤC TIÊU

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ MỤC TIÊU
VÀ PHƯƠNG CHÂM HOẠT ĐỘNG CỦA DÒNG TỘC
                                                                                                                        BÙI XUÂN VỊNH
     Cộng đồng họ Bùi hoạt động trên phạm vi cả nước từ tháng 12/2004. Từ ý tưởng còn sơ lược ban đầu của một vài người, nhờ trí tuệ, tâm đức của ngày càng nhiều người cùng họ góp vào, chỉ hơn 3 năm, đã tổ chức được Đại hội toàn quốc lần thứ nhất, đã có Điều lệ, có bộ máy hoạt động thu hút ngày càng đông bà con Bùi tộc tham gia.
     Điều 2 - Tôn chỉ, mục đích Điều lệ cộng đồng họ Bùi Việt Nam đã bao hàm đủ mục tiêu, phương châm hoạt động của cộng đồng. Mục tiêu là xây dựng một cộng đồng Đoàn kết - Tương trợ - Phát triển. Phương châm hoạt động là Liên kết dòng tộc, tìm về cội nguồn, tôn vinh Tổ Tiên, động viên con cháu.
     Phân ra mục tiêu, phương châm có thể chưa thật chính xác. Chẳng hạn đoàn kết (cả tương trợ nữa) vừa là mục tiêu vừa là động lực. Từng nhóm bốn từ trong phương châm cũng có thể coi là mục tiêu, tuy nó hẹp. Nhưng ít ra việc phân mục tiêu, phương châm cũng nhận rõ  được đích của cộng đồng và bằng cách nào để cộng đồng đạt tới đích.
     Khó mà cắt rời từng cặp trong mục tiêu Đoàn kết – Tương trợ - Phát triển. Cũng không thể trọng số đều nhau, mỗi cập một phần ba. Rõ ràng đích cuối cùng là xây dựng một cộng đồng phát triển. Phát triển là đích, tỷ trọng mong muốn hai ba phần. Nhưng không có đoàn kết, tương trợ, khó mà phát triển. Hãy để phát triển chiếm quá nửa mục tiêu. Non nửa còn lại của mục tiêu, đoàn kết hay tương trợ cần tỷ trọng lớn phải xét điều kiện cụ thể. Đoàn kết - Tương trợ tương tác hỗ trợ nhau. Đoàn kết mà không tương trợ nhau thì đoàn kết suông không thiết thực. Tương trợ mà không trên cơ sở đoàn kết có khi chỉ là từ thiện, bố thí vô cảm, tương trợ đó không phải của dòng tộc. Đoàn kêt - Tương trợ để phát triển là đích hoạt động của cộng đồng Bùi tộc và hướng phấn đấu trọng số tăng tỷ lệ thuận theo trình tự đoàn kết-tương trợ-phát triển.
     Họ là hình thức sở hữu huyết thống tổ tiên mà mọi người đều có và mang theo suốt đời, truyền từ
đời này qua đời khác. Bởi lẽ đó, ai cũng muốn tìm về cội nguồn tổ tiên của mình. Biết ông tổ họ mình ở làng lại muốn biết ông tổ bậc trên, bậc trên nữa.. ở xã, huyện hay tỉnh khác. Muốn tìm về cội nguồn nhất thiết phải liên kết dòng tộc. Phải tự liên kết, tìm liên kết, đoàn kết giúp nhau tìm liên kết, ban liên lạc các cấp cung cấp tư liệu lịch sử để mọi người liên kết tìm về được cội nguồn của mình.
     Rất khó tìm về được ông tổ đầu tiên duy nhất (cũng chưa hình dung nổi có tìm được hay không ?). Các tư liệu hiện có cho thấy, họ Bùi Việt Nam đã có cách đây hơn 2300 năm trước từ những đời cuối Hùng Vương nước Văn Lang. Liên kết dòng tộc, tìm về cội nguồn là con đường khá dài chưa biết bao nhiêu năm, hãy cùng nhau xúc tiến mạnh mẽ việc làm các cây gia phả may ra có thể tìm được các vị viễn tổ họ Bùi từ các đời vua Hùng.
     Nhưng liên kết dòng tộc, tìm về cội nguồn chỉ để biết thôi (chỉ để làm cây gia phả thôi, để biết quan hệ với nhau thôi) thì thật vô nghĩa nếu không tôn vinh tổ tiên, động viên con cháu và không thể dẫn cộng đồng tới đích. Tôn vinh tổ tiên vừa là đạo lý vừa đúng pháp lý. Có người so sánh rằng người họ Bùi nay không bằng tổ tiên xưa (nên cần tôn vinh tổ tiên ?!). Sự so sánh có thể khập khiễng nhưng biết đâu nó đúng với người này, ở nơi kia, tại lúc nọ. Thực sự có thể có cái kém, có những cái hơn. Đã so sánh hơn kém tổ tiên phải chỉ rõ cụ thể nội dung hơn kém. Nhưng tổng thể, cộng đồng họ Bùi đã, đang phát triển, như thế ắt hẳn hơn.
     Tôn vinh Tổ Tiên, ở bên kia thế giới, tổ tiên nhận ra hậu duệ biết lẽ sống, trọng đạo sinh ắt sẽ phù hộ độ trì. Nhưng chính tại thế giới này cộng đồng cần tập trung động viên con cháu mạnh mẽ, liên tục, phong phú đa dạng. Phát triển hay không, phát triển nhiều hay ít, phát triển mạnh hay yếu chính là ở con cháu chứ không phải ở những người mà “quỹ thời gian” chỉ còn phần năm, phần sáu....
     Ban liên lạc tổ chức hoạt động thiết thực, hiệu quả nên quan tâm đúng mức mục đích phát triển, phải chỉ rõ được đích phát triển. Nặng đoàn kết, chỉ là các hội hiếu hỷ, đồng hương, đồng môn, đồng niên, hoặc hội thọ... Nặng tương trọ không khéo thành các hội nghề nghiệp, ái hữu. Đủ đoàn kết-tương trợ-phát triển, đích thị là tổ chức của cộng đồng họ Bùi Việt Nam.
     Các tổ chức của cộng đồng họ Bùi Việt Nam (Ban vận động, Ban liên lạc lâm thời, Ban liên lạc) khi xây dựng quy ước, quy chế… nêu phương châm hoạt động thiết thực, hiệu quả nên đặt liên kết dòng tộc, tìm về cội nguồn ở non nửa phương châm (trong non nửa này, tìm về cội nguồn chiếm quá nửa); Trong già nửa phương châm hoạt động thuộc về tôn vinh tổ tiên, động viên con cháu, trong đó động viên con cháu phải chiếm phần lớn.
     Bằng đôi điều suy nghĩ, người viết bài này trước hết để tự răn mình, tự điều chỉnh nhận thức, lời nói, việc làm của mình theo trọng số cực đại ở đích phát triển (của mục tiêu), và theo tỷ lệ lớn nhất ở động viên con cháu (của phương châm hoạt động), sau đó muốn trao đổi với người cùng họ.
     Thiết nghĩ, các vị tham gia hoạt động dòng tộc các cấp cùng cân nhắc, “đo đếm” tỷ trọng hợp lý trong mục tiêu, phương châm để hoạt động hôm nay hơn hôm qua, ngày mai nhất định hơn hôm nay, như vậy cộng đồng Bùi tộc ta ắt luôn luôn phát triển.

GIỚI THIỆU CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ MỘT SỐ TIỂU BAN

GIỚI THIỆU CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ MỘT SỐ TIỂU BAN
CỦA BAN LIÊN LẠC HỌ BÙI VIỆT NAM

     Khoá I Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam (2008-4/2013) có các bộ phận chính trực thuộc là: Văn phòng-Kế toán tài chính nội bộ; Tiểu ban Thông tin văn hoá (bao gồm Tập san, Website Họ Bùi Việt Nam); Tiểu ban Tổ chức nhân sự; Tiểu ban Công tác họ Bùi nước ngoài; Tiểu ban Lịch sử truyền thống; Tiểu ban Kinh tế-Doanh nghiệp; Tiểu ban Kiểm tra; Tiểu ban Phát triển cộng đồng (8 bộ phận). Xin giới thiệu chức năng nhiệm vụ một số bộ phận:
   I.Tiểu ban Phát triển cộng đồng họ Bùi Việt Nam:
1.Nghiên cứu dòng họ toàn tâm, toàn ý phấn đấu để liên kết dòng tộc, hướng về cội nguồn, tôn vinh tổ tiên, động viên con cháu vì cộng đồng họ Bùi: Đoàn kết – tương trợ - Phát triển.
     +Tổ chức hướng dẫn, thực thi các hoạt động liên kết – đoàn kết – tương trợ - phát triển (tổ chức thăm hỏi, dự các giỗ, lễ, kỉ niệm, ra mắt các tổ chức họ Bùi, cứu trợ, cứu nạn, xoá đói giảm nghèo, khuyến học, khuyến tài, giúp nhau thi cử…)
     +Nghiên cứu việc đào tạo nhân lực các cấp độ theo khả năng, giới thiệu việc làm, hỗ trợ giải quyết nạn thất nghiệp, các tệ nạn, đặc biệt vùng sâu, vùng xa;
2.Nắm tình hình, thúc đẩy xây dựng tổ chức và hoạt động họ Bùi ở các địa phương, trong và ngoài nước (kết hợp tiểu ban công tác họ Bùi nước ngoài);
3.Cùng với tiểu ban Kiểm tra giải quyết các trở ngại phát triển họ Bùi, bảo vệ tôn chỉ, mục tiêu (Điều lệ, quy chế, quy định) của cộng đồng; Phát hiện và phối hợp giải quyết các mâu thuẫn, các việc phát sinh trong quá trình phát triển họ tộc bảo đảm sự đoàn kết nội tộc;
4.Cập nhật và thông tin kiến thức mới, công nghệ mới… giúp phát triển trí tuệ hiện đại, thiết thực, thích ứng vận dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, giáo dục mà họ Bùi quan tâm.v.v..
   II.Tiểu ban Lịch sử-Truyền thống:
1.Tư vấn cho các chi phả, chi họ thu thập tư liệu liên quan; biên dịch, biên soạn gia phả, kết nối dòng họ, giáo dục truyền thống;
2.Nghiên cứu mối liên hệ huyết thống và văn hoá giữa các chi phái họ Bùi, tạo cơ sở khoa học cho việc tôn vinh các mộ tổ, xây dựng từ đường họ Bùi Việt Nam, kiến trúc liên quan đến lịch sử-truyền thống họ Bùi Việt Nam;
3.Biên soạn các tài liệu, xuất bản các ấn phẩm phản ánh sự phát triển và thành tựu của cộng đồng Bùi về: Chính trị, giáo dục-khoa cử, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật đóng góp xây dựng đất nước trong lịch sử; những gương tiêu biểu người họ Bùi trên các lĩnh vực từ xưa đến nay;
4..Những việc lớn trong nhiệm kỳ 4/2008 – 4/2013:
   - Điều tra tổng thể các chi phái họ Bùi trên cả nước;
   -Tập hợp các nguồn tư liệu, chuẩn bị biên soạn bộ tổng tập ”Những người con tiêu biểu của họ Bùi Việt Nam (Tập 1: Các danh nhân khoa bảng họ Bùi xưa và nay; Tập 2: Các tướng lĩnh, anh hùng liệt sỹ tiêu biểu họ Bùi trong lịch sử; Tập 3: Các văn nghệ sĩ, nhà khoa học, doanh nhân tiêu biểu họ Bùi Việt Nam);
   -Hướng dẫn, tư vấn các dòng họ lập, biên soạn, biên dịch gia phả. (Các tư liệu, gia phả, các địa phương gửi bản sao trực tiếp về tiểu ban Lịch sử - Truyền thống)
   III.Tiểu ban Tổ chức-Nhân sự:
1.Cùng với các tỉnh-thành-dòng họ, nghiên cứu về tổ chức-nhân sự tương đối đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý. Chú trọng cùng toàn họ giáo dưỡng lớp trẻ, khuyến học-khuyến tài, hướng theo mục tiêu, phương châm xây dựng và phát triển của cộng đồng;
2.Phát hiện, đề nghị bố trí đội ngũ nhân cốt họ Bùi, trước hết là những người phụ trách cơ cấu tổ chức các cấp; Nắm và hiểu được tâm-đức-tài năng, tính cách, sở trường, sở đoản của con người để bố trí, sử dụng có lợi cho công việc họ và xã hội.
     Nhân cốt phải là những người có tâm huyết, gương mẫu thực hiện hiệu quả điều lệ, quy chế, đoàn kết gắn bó - hợp tác vì cộng đồng, kết hợp hài hoà các lợi ích, hết lòng vì sự nghiệp Bùi tộc.
3.Cùng với các tiểu ban liên quan xem xét, đánh giá hiệu quả của các nhân cốt; quy hoạch, bố trí hợp lý, phân cấp quản lý, bảo vệ đội ngũ nhân cốt họ đoàn kết. Kiến nghị người gây hại dòng họ, cơ hội, hiếu danh ham lợi. Khoan dung người thành thật nhận sửa chữa sai lầm.
4.Nghiên cứu tổ chức - nhân sự cho nhiệm kỳ tiếp sau theo tiêu chí: Tâm - Tầm (1) - Đức – Ý chí...
                                                                                                                                   
(1) Tầm: Tầm nhìn, nội hàm cơ bản: thấy trước, chuẩn bị trước; Hiểu được cộng sự, sử dụng đúng đắn năng lực; thiết kế được các mục tiêu trước mắt và trung hạn, điều hành hiệu quả; tin tưởng ở sự nghiệp.

                                                                                                Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam

THÔNG BÁO

THÔNG BÁO
     Để đáp ứng yêu cầu trước tình hình mới, Hội nghị Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam ngày 01/5/2009 tại 32 Bà Triệu Hà Nội đã quyết nghị:
     I.Về Tổ chức:
1. Ông Bùi Kiến Thành phụ trách Phó ban BLLHBVN, kết nối họ Bùi ở ngoài nước. Thành lập: ”Tiểu ban công tác họ Bùi nước ngoài” giúp việc ông Thành, gồm:
     Ông Bùi Hữu Thảo, 234 Bà Triệu Hà Nội, ĐT: 04.38228390
     Ông Bùi Đình Hạc, 14 ngõ 13 Võng Thị, Tây Hồ Hà Nội, ĐT: 04.37538182
     Ông Bùi Xuân Vịnh, Đại học Đông Đô, 8 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội, ĐT: 04.37719956, 0912612175, Email: xvinhnh@yahoo.com, buixuanvinh66@gmail.com
     Ông Bùi Mạnh Quỳnh, ĐT: 0989581360, Email: quynhbmacb@gmail.com
2.Thành lập Tiểu ban Tổ chức – Nhân sự:
     Ông Bùi Trọng Đỉnh, 1A Hùng Vương, Ba Đình Hà Nội, ĐT: 04.38347126, 090 322 6992, Email: dinhoa@gmail.com, Trưởng tiểu ban.
     Bà Bùi Thị Thái, 44 Tổ 74 Hoàng Cầu Hà Nội, ĐT: 0915388885
     Ông Bùi Kỳ Nam, số 2  167/97 ngõ 2 Khâm Thiên HN, ĐT: 0903223470
     Ông Bùi Ngọc Nội  37/1 ngõ Minh Hoàng, Phường 12, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, ĐT: 08.38496124
     Ông Bùi Khắc Dự, 37 đường Sông Lừ, Phương Liệt Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 04.5655943
3.Tiểu ban phát triển cộng đồng, tăng cường:
     Ông Bùi Huy Phú, 106 Dãy C, số 5 Quang Trung, Hà Nội, ĐT: 0903220846  
     Ông Bùi Đình Vụ, 14B ngõ 65 Vạn Bảo, Liễu Giai, Hà Nội, ĐT: 04.38326008
     Ông Bùi Sông Thu, 19 đường 6, Bình Triệu, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh, ĐT: 0908195179.
     Ông Bùi Văn Vượng nguyên trưởng tiểu ban Phát triển cộng đồng, Uỷ viên thường trực cơ động
     (Các vị cũ: Bùi Thế Kỷ, Bùi Văn Viện, Bùi Thanh Hải, Bùi Thanh Phúc, Bùi Ngọc Khôn...)
4.Tiểu ban lịch sử, tăng cường:
     Ông Bùi Xuân Đàm, số 2 ngõ 9 Lương Định Của Hà Nội, ĐT: 04.38527202
     Ông Bùi Trí Tuệ, số 5A, Vân Hồ 2, Hà Nội, ĐT: 0906242122
     Ông Bùi Văn An, Kĩ sư máy, C14-66 Hoàng Ngân, Cầu Giấy, Hà Nội, ĐT: 0988383609.
     Bà Bùi Thị Thuý, Đại học sử, TP604, nhà 172 Khu TT Ngân hàng Phương Liệt, Thanh Xuân, HN, ĐT: 0985818288.
5. Ông Bùi Xuân Ngật, Uỷ viên thường trực, Thư ký trưởng ban BLLHBVN
            ĐT: 0977808594, 04.38532817
     II. Về nhân sự
a.Bổ sung Uỷ viên BLLHBVN:
   1. Ông Bùi Sông Thu (Bùi Văn Bảy), Viện trưởng viện khoa học Quản trị, 19 Đường 6 Bình Triệu, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức TP HCM, ĐT: 0908195179
   2. Ông Bùi Thanh Phúc, GĐ CTTNHH Biên Hoà, ĐT: 0979897798, phái viên cơ động
   3. Bà Bùi Thị Tuyến, Trưởng ban vận động họ Bùi tỉnh Quảng Bình
   4. Ông Bùi Anh Tuý, Trưởng ban vận động họ Bùi tỉnh Yên Bái, 812 Điện Biên, TP Yên Bái, ĐT: 029. 3852460
   5. Ông Bùi Oanh, Trưởng ban vận động tỉnh họ Bùi Lâm Hà, 72 tổ 1 Yên Bình, thị trấn Đình Văn huyện Lâm Hà, Lâm Đồng, ĐT: 063.3851400
   6. Ông Bùi Minh Quỹ, Trưởng ban vận động họ Bùi tỉnh Lạng Sơn, 25 ngõ 3 đường Lê Lợi TP Lạng Sơn, ĐT:
   7. Bà Bùi Thị Thái, Phó tiểu ban Kiểm tra, 44 Tổ 74 Hoàng Cầu Hà Nội, 04 8561394
   8. Ông Bùi Văn Xá TBLLLT tỉnh Hưng Yên, Đào Dương Ân Thi, ĐT: 0321.3583034
   9. Ông Bùi Huy Phú, PGS TS Uỷ viên tiểu ban Kiểm tra
   10. Ông Bùi Xuân Vịnh, Phó tiểu ban Kiểm tra, 12 Hẻm 267/2/16 Hoàng Hoa Thám, HN
   11. Ông Bùi Ngọc Nội, Phó đại diện báo Quân đội nhân dân phía Nam
   12. Ông Bùi Văn Nghê, nguyên Bí thư Chương Mỹ, Phó ban BLLHB Hà Tây cũ
   13. Ông Bùi Thành Phần, nguyên Bí thư Quận Ba Đình Hà Nội, A4 ngõ 535 Kim Mã, Hà Nội, ĐT: 04.37710913, 0913234727
   14. Ông Bùi Xuân Đàm, Phó BLLHBVN Hà Nội
   15. Ông Bùi Khắc Dự, Thường trực BLLHBVN Hà Nội, 37 đường Sông Lừ, Phương Liệt Thanh Xuân, Hà Nội, ĐT: 04.5655943
   16. Ông Bùi Đình Hạc, Đạo diễn nghệ sỹ nhân dân, ĐT: 0972143074
   17. Ông Bùi Đăng Thái, Trưởng chi Ất Bùi Thịnh Liệt, ĐT: 04.36297129
   18. Ông Bùi Văn Xuyên, nguyên Phó chủ tịch tỉnh Hải Dương, Chu Văn An, TP Hải Dương, ĐT: 0913362461
   19. Ông Bùi Chín, Bác sỹ chuyên khoa II, bệnh viện Đà Nẵng, ĐT: 0983159293
b.Bổ sung Hội đồng trưởng lão:
   1. Cụ Bùi Hữu Thảo (Mai Văn Thái), giảng viên Pháp văn
   2. Cụ Bùi Văn Tùng, nguyên Chính uỷ E 203, người tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh trưa 30/4/1975
   3. Cụ Bùi Đình Phi (sáng lập BLLHB Quảng Ninh), 15/B2/Quỳnh Lôi, Hai Bà Trưng Hà Nội, ĐT: 04.38622098
   4. Cụ Bùi Đình Cư, Trưởng tộc Bùi xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ
   5. Cụ Bùi Đức Thái, Trưởng lão BLL họ Bùi Lâm Hà, Lâm Đồng
   6. Cụ Bùi Đức Huấn, nguyên Vụ trưởng Ban Tổ chức TW, T13 C101, tổ 39 phố Trung Kính, Trung Hoầ, Cầu Giấy, Hà Nội, ĐT: 04.37842895
     Để tăng cường sức mạnh dìu dắt Họ tộc xứng đáng là dòng họ “Quý hiển Văn hiến” phát triển bền vững lâu dài, tha thiết kính mong các vị có uy tín xã hội, có kinh nghiệm tổ chức quản lý tích cực xung phong gánh vác các cương vị của dòng họ.
                                                                                    Hà Nội, ngày 01 – 5 – 2009
                                                                             Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam

CÁC VỊ HỌ BÙI ĐƯỢC KHẮC BIA

CÁC VỊ HỌ BÙI ĐƯỢC KHẮC BIA
Ở VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM – HÀ NỘI
            Bùi Xuân Vịnh tổng hợp

     Trong 82 bia tiến sỹ (từ năm 1442 đến năm 1779) tại Văn miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội có khắc tên 30 vị Tiến sỹ Họ Bùi (1 vị Tam Khôi, 12 vị Hoàng Giáp và 13 vị đồng Tiến sỹ) xếp hàng thứ 7 (sau các họ Nguyễn – 601 vị, Lê -107 vị, Phạm – 86 vị, Trần – 71 vị, Ngô – 45 vị, Đỗ - 43 vị, Hoàng – 31 vị ) trong số 40 họ có tên tiến sỹ trên bia. Danh Gia vọng Tộc này đã được Hậu duệ trẻ Họ Bùi thời nay tiếp bước bằng việc học tập, rèn luyện, tốt nghiệp đại học được ghi danh hoặc tuyên dương tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, 2008. 

TIỀN NHÂN HỌ BÙI ĐỖ ĐẠT CAO ĐƯỢC KHẮC TÊN
TRÊN 82 BIA VĂN MIẾU - QUỐC TỬ GIÁM HÀ NỘI

     1.Bùi Hựu, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1442 huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên
     2.Bùi Lôi Phủ, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1442 huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín
     3.Bùi Phúc, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1448 huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên
     4.Bùi Khản, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1466 xã An Khoái huyện Thanh Miện
     5.Bùi Viết Lương, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1466 xã Dũng Tuyền huyện Nam Xương
     6.Bùi Xương Trạch, Đệ tam giáp Tiến sỹ 1478 huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín
     7.Bùi Sư Lục, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1481 huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách
     8.Bùi Đoan Giáo, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1487 huyện Bình Hà phủ Nam Sách
     9.Bùi Phổ, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1487 huyện Nghi Dương phủ Kinh Môn
     10.Bùi Doãn Chính, Tiến sỹ năm 1502 xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền
     11.Bùi Dục Tài, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1502 xã ….. huyện Hải Lăng
     12.Bùi Tân, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1502 xã Kim Bảng huyện Thiên Bản
     13.Bùi Doãn Hiệp, Đệ nhị giáp Tiến sỹ  năm 1511 huyện Phù Vân phủ Thường Tín
     14.Bùi Công Phụ, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1514 huyện Kim Hoa phủ Bắc Hà
     15.Bùi Khắc Nhất, Đệ nhất giáp Tiến sỹ  năm 1565 xã Bột Thái huyện Hoằng Hoá
     16.Bùi Văn Bưu, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1602 xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc
     17.Bùi Tất Thắng, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1613 xã Phương Lai huyện Vũ Tiên
     18.Bùi Cầu, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1619 xã Hoằng Liệt huyện Thanh Trì
     19.Bùi Bỉnh Quân, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1619 xã Định Công huyện Thanh Trì
     20.Bùi Văn Trinh, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1659 xã Hương Canh huyện Từ Liêm
     21.Bùi Tông, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1664 xã Thọ Lão huyện Yên Lạc
     22.Bùi Quang Vận, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1673 xã Tiểu Lan huyện Đông Yên  
     23.Bùi Công Phụ, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1676 xã Bình Dân huyện Đông Yên
     24.Bùi Công Tốn, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1685 xã Thượng Trưng huyện Bạch Hạc
     25.Bùi Đăng Đạt, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1697 xã Bân Xá huyện Thiên Lộc
     26.Bùi Hữu Nhẫm, Đệ tam giáp Tiến sỹ 1700 xã Thanh Tuyền huyện Nam Đường
     27.Bùi Sĩ Tiêm, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1715 xã Kính Lũ huyện Đông Quan
     28.Bùi Trọng Huyến, Đệ tam giáp Tiến sỹ năm 1739 xã Tiên Mộc huyện Nông Cống
     29.Bùi Đình Dự, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1757 xã Nãi Sơn huyện Nghi Dương
     30.Bùi Huy Bích, Đệ nhị giáp Tiến sỹ năm 1769 xã Định Công huyện Thanh Trì,
trú quán xã Thịnh Liệt   

ĐỀN THỜ NHÂN THẦN HỌ BÙI

ĐỀN THỜ NHÂN THẦN HỌ BÙI
                                                                   Bùi Xuân Vịnh tổng hợp

     Đền thờ Việt Nam (chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc) thường thờ thiên thần theo truyền  thuyết (không nhiều) và thờ nhân thần. Nhân thần được lập đền thờ thường là vua, chúa, hoàng hậu, hoàng tử, hoặc tướng lĩnh có công chống ngoại xâm. Nhân thần họ Bùi thường là các trung thần có công phò vua, giúp dân, đa phần được phong là phúc thần. Từ các tư liệu văn hoá, lịch sử, lược ghi một số đền thờ nhân thần họ Bùi dưới đây bà con tộc Bùi biết để thờ phụng.
Đền Bảo Khang Đại vương: Đền thờ Bùi Mộng Hoa, trung thần thời Trần ở xã Thiết Bình Đông Anh Hà Nội. Năm 1392, vua Trần Thuận Tông xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Bùi Mộng Hoa dâng thư đại ý nói Hồ Quý Ly có ý nhòm ngó ngôi báu. Sau Quý Ly chuyên quyền, ông ở ẩn không ra làm quan nữa. Sau khi ông mất, nhân dân xã Thiết Bình lập đền thờ ông làm Phúc thần.
            Đền Bùi Công: Đền toạ lạc tại xã Thu Bồ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Đền thờ trấn quận công Bùi Tá Hán, tướng trấn thủ xứ Quảng Nam. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá, ông từng đem quân ra giúp dẹp quân các thế lực thuộc phe nhà Mạc, được coi như có công trong việc củng cố vị thế của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Ông mất năm 1568, được tăng chức Thái Bảo, dân địa phương lập đền thờ tôn làm Phúc thần.
            Đền Bùi Ngự sử, còn gọi là Đô Đài ở thôn Cao Xá, xã Minh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, thờ Ngự sử Bùi Cầm Hổ. Ông làm quan ba đời triều Lê, thăng đến chức Ngự sử, hai lần vâng mệnh đi sứ nhà Minh, là bậc trung thần có tiếng đương thời, sau về trí sĩ. Ông có công trong việc đắp đập đá trên núi Hồng Lĩnh để dẫn nước tưới ruộng. Sau khi ông mất, dân lập đền thờ dưới chân núi Bạch Ty, các triều đều được sắc phong Thượng đẳng thần.
            Đền Đại thánh thiền sư: Đền ở xã Trực Chính, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định thờ Đại thánh thiền sư họ Bùi. Khoảng năm 1573-1577, thiền sư đắc đạo ở Tây Phương (Ấn Độ) trở về, đến trụ trì ở chùa Thuỳ Cung. Tại đây thiền sư biên soạn tập Kế đăng lục, đúc chày kim cương bằng đồng. Thiền sư mất năm 1641.
            Đền Lương quận công: Đền toạ lạc tại xã Đông Biểu, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, thờ Lương quận công họ Bùi – Bùi Công, chưa rõ tên huý, có công giúp Lê Thái Tổ khởi nghĩa. Khoảng năm 1434-39, ông vâng mệnh đi sứ sang Bắc quốc. Do tài mưu trí, người Minh rất kính phục ông. Lần ấy nhà Minh phải phong vua Thái Tông là An Nam Quốc vương. Nhờ có công lớn, ông được ban quốc tích, phong chức Thái Bảo. Sau khi mất, được tặng Thượng thư Thái bảo Lương quận công và dựng đền thờ.
            Đền Tam trung: Đền thờ 3 trung thàn triều Nguyễn là Bùi Tăng Huy, Phạm Đình Trạc và Phạm Văn Lưu. Đền dựng tháng 10 năm 1833 tại xã Gia Cung, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Năm ấy thổ ty Bế Văn Cận theo thổ ty Nùng Văn Vân ở Tuyên Quang đem quân vây đánh thành Lạng Sơn. Ba ông rút vào thành cố thủ, nhưng sức yếu, lương cạn, đành phải tự vẫn. Sau khi thành được giải vây, vua Nguyễn nhớ lòng tiết nghĩa của ba ông bèn sai lập đền thờ, gọi là đền Tam Trung.
            Đền thờ Tiết nghĩa Bùi Đại Vương: Đền thờ Bùi Bá Kỳ tại quê ông ở xã Phú Nội, huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ Thái học sinh triều Trần. Khi Hồ Quý Ly cướp ngôi, ông dấy quân chống lại, mưu khôi phục lại cơ đồ nhà Trần. Quân Minh sang diệt Hồ Quý Ly rồi chiếm nước ta, dung ông làm chức Tham nghị. Ông ngầm thu nạp người trong nước chống lại. Bọn Minh dò biết được, bắt ông đem về Tàu. Người đời khen ông trung nghĩa lập đền thờ.
            Đền Cả Du Đồng (còn gọi là đền Hàng Tổng): Thuộc địa phận thôn Vĩnh Thành, xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Đền thờ “Lương uy phụ quốc trí dũng hùng lược hiền lương dực bảo trung hưng thượng đẳng thần” Bùi Thúc Ngật, người có công khai phá, chiêu dân lập nên xóm làng của tổng Du Đồng, truyền bá, mở mang nghề nông trang (nông nghiệp và dâu tằm), mở trường dạy học đầu tiên cho nhân dân cả vùng phía tây huyện Đức Thọ ngày nay. Đền Cả Du Đồng được xếp hạng “Di tích kiến trúc nghệ thuật” theo Quyết định của Bộ Văn hoá thông tin ngày 30 tháng 8 năm 1991.