Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

NGƯỜI HỌ BÙI ĐƯỢC PHONG GS, PGS

NGƯỜI HỌ BÙI ĐƯỢC PHONG GS, PGS
                                                                                                            BÙI QUANG VINH tổng hợp
     Người họ Bùi được công nhận học hàm Giáo sư, Phó giáo sư tại buổi lễ công bố Quyết định công nhận ngày 20/11/2009 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội và được bổ nhiệm Chức danh Giáo sư, Phó giáo sư tại các Quyết định 1954/QĐ-BGDĐT, 1955/QĐ-BGDĐT ngày 17/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo được tổng hợp trong 2 danh sách dưới đây (theo tư liệu của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước và Trang thôngtin điện tử chinhphu.vn)
Giáo sư (QĐ 1954/QĐ-BGDĐT)

TT
Họ tên
Ngày sinh
Giới
Tính
Quê
Huyện, tỉnh
Ngành/chuyên ngành
Bổ nhiệm tại cơsở
Giáo dục đại học
1
Bùi Đức Phú
06.7.1956
Nam
Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh
Y dược
Đại học Y dược -Huế

Phó giáo sư (QĐ 1955/QĐ-BGDĐT)

TT
Họ tên
Ngày sinh
Giới
tính
Quê
huyện, tỉnh
Ngành/chuyên ngành
Bổ nhiệm tại cơsở
Giáo dục đại học
1
Bùi Kim Đỉnh
19.5.50
Nam
Hải Hậu, Nam Định
Lịch sử
HV Báo chí
2
B. Minh Thanh
19.5.59
Nam
Kiến Xương, TBình
An ninh
HV Cảnh sát ND
3
B.Trung Hiếu
18.2.55
Nam
Tiền Hải, Thái Bình
Điện tử
HV CôngnghệBCVT
4
BĐườngNghiêu
11.5.61
Nam
Ý Yên, Nam Định
Kinh tế
HV Tài Chính
5
B.Xuân Mến
18.3.51
Nam
Phù Cừ, Hưng Yên
Chăn nuôi
ĐH Cần Thơ
6
Bùi Thế Duy
09.5.78
Nam
Đức Thọ, Hà Tĩnh
Tin học
ĐH Công nghệ
7
B.Ngọc Toàn
04.9.68
Nam
Đề Thám, TháiBình
Giao thông
ĐH Giao thong
8
B.Văn Loát
22.3.58
Nam
Nam Trực, N Định
Vật lý
ĐH Khoa học TN
9
B Quang Bình
16.7.59
Nam
Tây Sơn, Bình Định
Kinh tế
ĐH KT Đà Nẵng
10
Bùi Dũng Thế
19.8.64
Nam
ThanhChương,N.An
Kinh tế
ĐH KT, ĐH Huế
11
Bùi Xuân Nam
02.8.74
Nam
Ý Yên, Nam Định
Mỏ
ĐH Mỏ Địa chất
12
Bùi Thị Lý
05.7.72
Nữ
Triệu Phong, Q. Trị
Kinh tế Quốc tế
ĐH Ngoại thương
13
Bùi Hữu Đức
24.2.70
Nam
Kiến Xương, TBình
Kinh tế
ĐH Thương mại
14
Bùi Xuân Nhân
03.1.58
Nam
Xuân Trường,NĐịnh
Kinh tế
ĐH Thương mại
15
Bùi Xuân Thông
26.3.49
Nam
Lập Thạch, V.Phúc
Thủy văn biển
ĐH Thủ lợi
16
Bùi QuốcThắng
24.8.63
Nam
Q.6, TP Hồ ChíMinh
Nhi khoa
ĐH Y Dược TPHCM
17
Bùi Văn Viên
01.3.59
Nam
Lạc Sơn, Hoà Bình
Nhi khoa
ĐH Y Hà Nội
18
Bùi Thị Mai An
14.4.58
Nữ
Từ Liêm, Hà Nội
Huyết học
ĐH Y Hà Nội
19
Bùi Thị Thu Hà
17.11.67
Nữ
TP Nam Định
Y Tế cộngđồng 
ĐH Y tế cộng đồng
20
BùiBỉnhBảoSơn
13.3.69
Nam
Nam Trực, N. Định
Y học
ĐH Y Dược ĐH Huế
21
Bùi Tá Long
12.4.62
Nam
Tư Nghĩa, Q.Ngãi
KH trái đất
ĐHQG TP HCM
22
Bùi Định Trí
04.11.60
Nam
Kim Bảng, Hà Nam
Cơ học
Viện Cơ học
23
Bùi Quang Tuấn
31.3.63
Nam
Cẩm Xuyên,HàTĩnh
Kinh tế
Viện KHXH VN
24
Bùi Chí Hoàng
02.5.55
Nam
Hoà Vang, ĐàNẵng
Lịch sử
Viện KHXH VN
25
BùiQuangThanh
27.7.55
Nam
Ý Yên, Nam Định
Văn hoá
Viện Văn hoá
26
BùiQuangThắng
25.7.54
Nam
Nam Đàn, Nghệ An
Văn hoá
Viện Văn hoá

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ PHÁT TRIỂN DÒNG HỌ

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ PHÁT TRIỂN DÒNG HỌ
                                                                                                                                    BÙI XUÂN VỊNH
     Dòng họ là bộ phận của cộng đồng dân tộc, gần tới cội nguồn của đất nước. Các dòng họ phát triển là cơ sở cho đất nước phồn thịnh. Văn hoá dòng họ, bộ phận của văn hoá làng xã, đặc trưng quan trọng của văn hoá Việt Nam. Làng xã, văn hoá làng xã Việt Nam, có thể coi là pháo đài, là điểm tựa khó bắn phá, làm cho dân tộc Việt không bị đồng hoá suốt hàng nghìn năm Bắc thuộc. Văn hoá (tuy thuộc phạm trù ý thức) Việt Nam có sức mạnh “vật chất” vô biên, đặc biệt giữa sinh tồn, tử tận. Khi lý giải nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam ta sau hoà bình thống nhất năm 1975, tướng Giáp đã khẳng định: nền văn hoá hàng nghìn năm của Việt Nam đã đánh thắng nền văn hoá mấy trăm năm của Mỹ, mặc dù sức mạnh vật chất của ta không đáng phần nghìn, phần vạn sức mạnh vật chất của Mỹ. Nhưng cũng đáng băn khoăn nhiều thập kỷ nay, văn hoá Việt Nam chưa được đầu tư-phát triển thoả đáng nhiều mặt.
     Chưa có tài liệu nào lý giải tại sao vấn đề dòng họ bị lãng quên hàng trăm năm, làm cho khá nhiều họ không có gia phả, nhà thờ bị chia nhỏ, ít có nhà thờ xứng tầm, mộ tổ bị thất lạc, giỗ tổ bị bỏ qua…mà ít ai nhắc đến. Phải chăng từ sau Pháp thuộc, tiếp cận với nền văn hoá công nghiệp phương tây đã làm cho văn hoá làng xã (văn hoá nông nghiệp) của ta bị mai một. May mà cố kết làng xã, có gốc gác từ cố kết gia đình, huyết tộc không bị phá vỡ.
     Cũng có thời gian ở nông thôn ta vấn đề họ hàng gây nên tình trạng cục bộ, bè phái mất đoàn kết cả từ trong Đảng, Chính quyền, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của địa phương. Đến nay vấn đề như chìm lắng, do ảnh hưởng không còn đáng kể. Gần đây, trong nền kinh tế thị trường, nhiều gia đình, dòng họ làm ăn phát đạt, cũng không phải không có ý kiến: Vấn đề dòng họ bây giờ không quan trọng lắm. Nhưng có khảo sát gần đây cho thấy ngay như ở làng Đồng Kỵ (một làng quê mà nhà cửa đường sá có những phố lớn nội thành Hà Nội khó sánh), không ít gia đình vẫn tồn tại 3, 4 thế hệ chung sống trong một nhà, một cụm nhà, nhiều gia đình lớn vẫn giữ nề nếp có một bữa ăn chung hàng tháng, có khi hàng tuần, rồi chúc thọ, mừng sinh nhật, mừng tuổi, thưởng học tập, lao động, thăm viếng bà con, họ hàng, chia sẻ buồn vui trong họ hàng, nghĩa là họ vẫn giữ được và vẫn muốn bảo lưu nét đẹp văn hoá gia đình, dòng họ, chứ không phải ai cũng mải lo công việc làm ăn thường nhật mà lãng quên hết truyền thống.
     Gần đây, khi thảo luận Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội đảng XI, GS Hà Đình Đức, Đại học quốc gia Hà Nội đã đề nghị bổ sung nội dung văn hoá gia đình, dòng họ vào phần Văn hoá mục IX với cách lý giải thấu đáo rất đáng để Đại hội Đảng toàn quốc ghi nhận.
     Việt Nam ta, thờ cúng tổ tiên như là một quốc đạo. Đã cùng một tôn giáo thì chung nhau cách hành lễ, chung nhau quan niệm về cái thiêng, giống nhau cách quan hệ với người đã khuất.
     (Về mối quan hệ giữa người sống và người chết đã có quá nhiều sự kiện, nhiều báo chí, từng nhiều năm đưa ra lúc này, lúc kia, thu hút không ít người theo dõi. Nhưng lý giải một cách cặn kẽ có sức thuyết thì đó còn là một đề tài khoa học lớn. Tuy nhiên, thực vật, động vật, rồi con người ..tất cả đều sinh ra từ “cát bụi”, nghĩa là con người cũng gồm tỷ tỷ.. tế bào là những phân tử hữu cơ có thông tin di truyền ADN. Bởi vậy, những người có cùng gốc AND - con cái - cha mẹ - ông bà - cụ kỵ -…tổ tiên tất thường xuyên “thông tin” cho nhau. Khi còn sống, “thông tin” truyền nhận theo kiểu người đang sống. Người sống, tại khoảnh khác nào đó, hoặc khi khấn vái - tập trung thông tin, thì các sóng thông tin thu – phát sẽ giao thoa, cộng hưởng và nhờ đó nhận biết được thông tin phát ra từ AND người chết. Còn thông tin giữa các phân tử - tạo nên vật chất sống thì khoa học Lý thuyết thông tin đã chứng minh, “có vật chất, ắt có thông tin”, cũng như có vật chất, tất có năng lượng vậy, nghĩa là năng lượng cũng như thông tin đều là thuộc tính của vật chất. Giữ đều đặn quan hệ với người “thế giới bên kia”, giữ tốt vật chất-hài cốt của người đã khuất, tất sẽ có ngày người sống nhận được thông tin đồng pha, cộng hưởng từ “thế giới bên kia” làm cho năng lượng sống sẽ dồi dào. Giữ đều đặn, hoặc chăm chỉ quan hệ với người đã khuất, trước hết cùng huyết thống, ắt có ngày được tận hưởng phúc-lộc).
     Không có gia đình nào là không có bàn thờ gia tiên, và đều thắp hương khấn vái tổ tiên vào những ngày giỗ chạp, lễ kỵ trong gia đình, cũng là nét đẹp văn hoá Việt Nam. Nhưng tổ tiên gia đình nào mà không có xuất xứ từ ông tổ họ. Như vậy, gia đình và dòng họ có mối quan hệ khăng khít gắn bó. Nhưng gia đình trong xã hội thì nhà nước ta đã hết sức coi trọng và được xem là tế bào cơ bản. Bởi vậy, gia đình đã được đặt dưới góc độ có cơ quan quản lý nhà nước (Uỷ ban Dân số và gia đình, trước đây là cơ quan ngang Bộ), mặc dù vẫn nghiêng về phía dân số.
     Xem ra phát triển dòng họ chính là phát triển cộng đồng dân tộc, có tác động không nhỏ đến gia đình, và đương nhiên tác động tích cực đến xã hội. Xem xét dưới góc độ khác về họ, mỗi con người không chỉ mang họ bố, mà phải có cả họ mẹ, bố phải mang cả họ bà nội, mẹ phải mang cả họ bà ngoại..; Mỗi con người mang 2, 4, 6, 8,…., n chẵn họ, và có quan hệ bà con với bằng ấy họ. Như vậy, phát triển văn hoá dòng họ chính là phát triển đại đoàn kết dân tộc bởi vì toàn dân tộc có quan hệ bà con họ hàng gắn bó khá rộng rãi. Vấn đề này (phát triển dòng họ) chưa được đặt ra trong sự phát triển của dân tộc, trong sự phát triển của đất nước.
     Họ Bùi ta trong trăm họ Việt Nam, chẳng kém cỏi gì nhiều mặt các họ khác trong lịch sử đất nước, chỉ trừ làm vua-chúa, vì tính trung thực, thẳng thắn, nhân đức, không cơ hội, tham vọng chính trị, bởi vì “một lời nói thực cay đắng hơn hẳn ngàn vạn lời nói dối ngọt ngào” chưa thành nhận thức chủ đạo đối với người có trách nhiệm hàng trăm năm cho đến tận bây giờ mà lẽ ra, điều đó phải trở thành nhận thức của xã hội. Điều đó làm cho họ Bùi ta đáng tự hào đi lên.
     Họ Bùi ta, đã chọn đích phát triển trong tiêu chí 6 chữ. Để phát triển dòng họ, quá nhiều việc phải làm, nhiều kế sách cần được dâng hiến, nhiều việc cần người làm. Mọi người chúng ta, đặc biệt người có tuổi, người cao tuổi, luôn nghĩ rằng cần để lại gì cho đời, cần làm cái gì cho hậu thế. Đó là suy nghĩ đáng trân trọng của người sống có trách nhiệm. Nhưng đôi khi, lực bất tòng tâm. Cuộc sống bình thường cũng lắm khi làm ta mệt mỏi, sao nhãng việc theo đuổi suy nghĩ ích lợi cho đời.
     Một số lễ hội họ, kể cả giỗ tổ, một số sinh hoạt họ đó đây chỉ thấy những người đứng tuổi, người cao tuổi, ít thấy thanh thiếu niên, các cháu nhỏ nếu đến lễ hội họ, thường chỉ để chơi, xem. Những việc này làm mọi người lớn phải suy nghĩ và cần làm gì đó, vì chúng ta biết rõ phát triển dòng họ là phát trển ở con cháu, ở hậu duệ, phải làm cho con hơn cha, phải làm để đạt hậu sinh khả uý.
     Họ Bùi toàn quốc đã có website tích luỹ được thông tin, tư liệu dòng họ, có đối tượng là giới trẻ, có lợi thế truyền thông tin ra ngoài nước, nhưng cần cập nhất tốt hơn, không cần cầu toàn bởi tính dễ sửa, dễ chỉnh của nó. Ấn phẩm Họ Bùi Việt Nam với đối tượng rộng rãi phổ cập trong nước nhưng phải qua nhiều công đoạn, phải chọn lọc, chỉnh sửa bản thảo nhiều loại thông tin, tư liệu dòng họ mất nhiều công sức (vì không dễ đính chính, lại có sự kiểm duyệt in ấn kỹ hơn so với internet) nên ba bốn tháng hoặc dài hơn mới ra được một số, vẫn không hết sai sót. Dẫu sao, hai phương tiện thông tin trên, cùng một số ấn phẩm dòng họ địa phương đã có tác động tích cực tuyên truyền phát triển dòng họ bằng việc cung cấp, trao đổi thông tin hoạt động họ, tư liệu kết nối tìm cội nguồn... Tuy nhiên BLLHBVN, BLLHB các địa phương cần quan tâm đầu tư công sức, con người hơn nữa, động viên đội ngũ cộng tác viên rộng rãi, trước hết trong dòng họ ở tất cả địa phương, ở mọi lĩnh vực trong nước, cả ở ngoài nước cho các phương tiện thông tin này. Không để trang Web, ấn phẩm Họ Bùi Việt Nam đói tin, đói bài, hoặc chỉ đăng đi, đăng lại một số cụ Tổ, một số dòng họ lớn của một số địa phương, trong khi dòng họ tồn tại và hoạt động nhiều vẻ ở khắp mọi nơi. Không để tin, bài, tư liệu về họ nằm yên lặng trong tủ của họ hoặc trong cặp của ai đó. Phải xem 2 phương tiện thông tin là nơi xử lý đầu tiên (bước một) tất cả các tư liệu về dòng tộc, trước khi các tư liệu ấy còn phải xử lý tiếp về tình tiết, thời điểm lịch sử, địa danh xưa-nay, chắp nối thành bộ…
     Để phát triển dòng họ hữu hiệu hơn, đòi hỏi hoạt động đều tay các tiểu ban của BLLHBVN, các BLLHB các tỉnh, thành, đặc biệt các bộ phận liên kết phát triển cộng đồng. Nhiều Ban liên lạc tỉnh thành duy trì tốt họp mặt hàng năm, là hoạt động tích cực phát triển dòng họ. Các Ban liên lạc, kể cả BLLHBVN toàn quốc nghiên cứu tổ chức hoạt động hàng năm với nhiều chủ đề, cho nhiều đối tượng, là hình thức phát triển dòng họ tích cực, hiệu quả.
     Các hoạt động dòng họ của ta hiện nay mới đạt mức nào đó ở liên kết dòng tộc, tôn vinh tổ tiên và đáp ứng rất nhỏ mong muốn tìm về cội nguồn. Còn đích động viên con cháu trong phương châm hoạt động dòng tộc còn đang nhỏ nhoi. Nhiều dòng họ làm tốt việc khuyến học, khuyến tài, nhưng các Ban liên lạc chưa đủ sức làm. Con cháu là lực lượng lao động chính, chừng nào thấy hoạt động dòng họ chưa có lợi ích thiết thực, chỉ để cho vui, để biết thêm quan hệ họ hàng, biết thêm danh nhân dòng tộc, ..thậm chí cho rằng hoạt động họ chỉ mất thì giờ, vô bổ, thì chừng đó, hoạt động dòng tộc chưa thu hút con cháu là thanh niên, lực lượng lao động chính.   
     Chờ đợi và hy vọng Hiệp hội Doanh nghiệp – Doanh nhân họ Bùi Việt Nam, sản phẩm của Tiểu ban Kinh tế doanh nghiệp có sự đồng lòng đồng sức của dòng họ cả nước ra đời, sẽ là “sân chơi” bổ ích lý thú cho các doanh nhân dòng họ, cho những ai quan tâm làm kinh tế, là cách tập hợp, phát triển dòng họ lớn nhất, thu hút nhiều lực lượng lao động chính của dòng họ.
     Đã manh nha ý kiến thành lập một hình thức tổ chức gì đó cho con gái, con dâu họ Bùi Việt Nam. Nếu tổ chức này ra đời chắc có những hoạt động phong phú, thú vị về phát triển dòng họ.  
     Tuyên truyền, phát triển dòng họ là nhiệm vụ cấp bách, cơ bản và lâu dài của dòng họ mà mỗi thành viên, tổ chức của dòng họ luôn luôn nghĩ đến và tìm mọi cách làm càng ngày càng hiệu quả.

LỄ HỘI ĐỀN CẢ DU ĐỒNG

LỄ HỘI ĐỀN CẢ DU ĐỒNG
                                                                                                                        BÙI SỸ NÊ
     Đền Cả Du Đồng cũ (đền Hàng Tổng) nay thuộc thôn Vịnh Thuận xã Đức Đồng, Đức Thọ, Hà Tĩnh, thờ thần Bùi Thúc Ngật, một người của tộc Bùi thôn Vịnh trước đây, thuộc chi phái Bùi tộc xã Đức Long, có nguồn gốc từ vị Viễn tổ Bùi Mộc Đạc, quê Tri Lai, Thái Bình, nay thuộc TP Thái Bình.
     Đền Cả Du Đồng, di tích cấp Quốc gia đầu tiên được công nhận ở huyện Đức Thọ, năm 1991, nhưng thời gian dài trước đây, nhiều hạng mục của di tích hư hỏng, phải thu gọn dần, nhiều năm qua, do điều kiện khó khăn, dân xóm mải lo cuộc sống thường nhật, xã thì nặng gánh xây dựng kinh tế xã hôị địa phương, ngoài tầm với đối với di tích này, truyền thống văn hoá nhạt nhoà.
     Mấy năm gần đây, chính quyền xã và hai thôn thuộc thôn Vịnh cũ, cùng tộc Bùi Đức Đồng đã thành lập Ban Di tích do ông Bùi Văn Phùng, nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Đức Đồng làm Trưởng ban. Ban di tích với kinh phí ít ỏi của Nhà nước hỗ trợ và tiền công đức của dân, nhất là sự đóng góp của những người xa quê hướng về cội nguồn như các ông Trần Khắc Hạ, Trần Văn Yên, Bùi Sỹ Cơ, Bùi Sỹ Nê, Bùi Xuân Vịnh... nên đã sửa chữa, giữ gìn được mấy hạng mục cơ bản: cột nanh, cổng vào, hạ và trung điện cùng một số đồ thờ... làm cho dân đến thắp hương thờ tự thấy tôn nghiêm hơn.
     Vài năm nay, Ban di tích với sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng uỷ, UBND xã Đức Đồng đã chú tâm phục dựng lại những lễ nghi vừa theo cổ truyền dân tộc vừa cách tân đổi mới, tổ chức các lễ hội đền nhằm để tôn vinh công đức tổ tiên, động viên con cháu giữ vững truyền thống, cố gắng làm kinh tế, xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp.
     Lễ hội Đền Cả trước cách mạng 1945 tổ chức vào Rằm tháng Bảy theo nghi lễ tế thần tại đền, sau đó rước kiệu thần về đình Ngũ Lục, mở Hội vui 3 ngày, có thi đánh cờ, kéo co, đua vật và hát tuồng bội, phường chèo v.v.. đến ngày thứ 4 rước kiệu về đền.
     Ngày nay, do đình Ngũ Lục không còn và không cần thiết tổ chức lễ hội quy mô như vậy, kết hợp với lễ hội dân gian vào Tết thượng nguyên và các lễ tế thần xưa ở các đền xã Đức Lạc, xã Đức Lập tổ chức vào ngày Rằm tháng Sáu, Ban di tích quyết định tổ chức lễ hội đền Cả Du Đồng hàng năm vào Rằm tháng Giêng - Lễ Cầu yên và Rằm tháng Sáu - Lễ Cầu Phúc.
     Được sự chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thể xã Đức Đồng và các xã lân cận giúp đỡ, ngày Rằm tháng Sáu năm Canh Dần này (thứ hai, 26/7/2010), Ban di tích đền Cả cùng chính quyền xã, thôn và tộc Bùi Đức Đồng sẽ tổ chức Lễ hội lớn tại đền, kính mời các cơ quan đoàn thể, nhân dân tổng Du Đồng cũ và con cháu Bùi tộc Đức Đồng trên mọi miền tổ quốc về dự lễ hội.
     Hiện tại, công trình có giá trị nhất của đền là Cổng tam quan đang bị nghiêng lệch, đường nét điêu khắc chạm trổ đang bị sờn mòn ngả hết màu, tổng thể công trình xuống cấp nghiêm trọng. Theo ông Bùi Hữu Dũng, Phó chủ tịch UBND huyện Đức Thọ cho biết, huyện đang hoàn tất dự án lớn nhằm phục chế, tôn tạo, nâng cấp đền Cả Du Đồng trình UBND tỉnh Hà Tĩnh xét đề nghị Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch phê duyệt dự án xin kinh phí Nhà nước thực hiện.
     Khi Dự án công trình được thực hiện, niềm vui không chỉ với hậu duệ tộc Bùi, với dân xã Đức Đồng, mà còn cả huyện Đức Thọ, bởi Đền Cả Du Đồng sẽ là điểm chiêm bái, tham quan trong một tuyến du lịch Về với quê hương cách mạng Trần Phú gồm “Nhà tưởng niệm và Mộ Trần Phú”, “Bia, mộ Phan Đình Phùng”, “Chùa Am”, “Căn cứ kháng chiến chống Pháp Vũ Quang”..   
     Hãy hy vọng và tin tưởng niềm vui sẽ đến khi mà mọi người con quê hương Đức Đồng luôn hướng về cội nguồn, đóng góp phần mình dưới mọi hình thức để tôn vinh tổ tiên, động viên con cháu.

Đền Cả Du Đồng - thờ Bùi Thúc Ngật

Đền Cả Du Đồng - thờ Bùi Thúc Ngật
                                                                                                                                                          BÙI XUÂN VỊNH

     Đền Cả Du Đồng cũ (đền Hàng Tổng) nay thuộc địa phận thôn Vịnh Thuận, xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trước đây thuộc thôn Vịnh, tổng Du Đồng, phủ Đức Thọ. Đền thờ vị “Lương uy phụ quốc trí dũng hùng lược hiền lương dực bảo trung hưng thượng đẳng thần”.
     Thần tên là Bùi Thúc Ngật, dòng dõi công thần triều Lê Bùi Bị, đậu Hương Cống (Cử nhân), giữ chức Chánh đội trưởng, Phó thiên hộ kiêm Tổng giáo quan tại trại quan Đồng Công, người có công tổ chức khai phá đất hoang, chiêu dân lập nên nhiều xóm làng của tổng Du Đồng, truyền bá, mở mang nghề nông trang (nông nghiệp và dâu tằm), mở trường dạy học đầu tiên cho nhân dân cả vùng phía tây huyện Đức Thọ ngày nay. Sau khi ông mất, nhân dân nhớ ơn và lập đền thờ. Các triều vua nhà Lê, Nguyễn đều có sắc phong… Đền Cả Du Đồng quy mô không lớn nhưng vừa là một di tích lịch sử, vừa là một di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
     Đền Cả Du Đồng cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử, là vị trí tiền tiêu, tiếp nhận lương thực, tuyển mộ quân sĩ của nghĩa quân Phan Đình Phùng trong kháng chiến chống Pháp những năm 1887 - 1888. Là nơi vào năm 1903 - 1904 cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và Nguyễn Sinh Cung (sau này là Bác Hồ) đến dạy học và viếng cảnh, là nơi thành lập Tổng uỷ Du Đồng của Đảng cộng sản Đông Dương năm 1930, là nơi treo cờ đỏ sao vàng vào ngày21/8/1945 trong cao trào tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Tuy nhiên đền Cả Du Đồng có giá trị cao hơn cả là một công trình kiến trúc nghệ thuật, tuy quy mô không đồ sộ nhưng rất đẹp và uy nghiêm, với những mảng chạm khắc tinh xảo tuyệt vời, độc đáo và uyển chuyển.
     Kết cấu đền Cả Du Đồng bao gồm cột nanh nhà Tam quan, hạ, trung và thượng điện bố cục theo kiểu chữ Tam ngoảnh mặt về hướng tây nam. Trước đền có một dãy ao hồ quanh năm đầy nước tạo nên thế cận thuỷ cho đền, sau đền có con sông nhỏ Hắc Giang lượn vòng uốn khúc ôm lấy thôn Vịnh rồi đổ ra sông Ngàn Sâu. Trong số kiến trúc đền, nhà Tam quan là đặc sắc hơn cả, gồm 1 gian 2 vì có hồi văn làm bằng gỗ lim và mít lợp ngói mũi hài, toàn bộ các đường xà kẻ khâu đấm rường và cửa vọng đều được chạm lộng rất tỉ mỉ và tinh xảo với các đề tài dân gian như cảnh trí sinh hoạt tứ quý, các chép vượt vũ Môn, rùa đội cuốn thư. Nhà Tam quan là bình phong để ngăn cách cổng, sân đền với khu vực thờ tự, song đây không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật nổi tiếng tại Hà Tĩnh. Vì thế nhân dân trong vùng có câu ca:
“Gác chuông Kẻ Thượng, Hương án Xa lang, Tam quan Du Đồng”.
     Đền Cả Du Đồng là một công trình có sự thống nhất và hoàn thiện cao về  bố cục, kết cấu và kỹ thuật xây dựng, đặc biệt là các mảng chạm khắc gỗ tinh xảo ở nhà Tam quan, Trung điện và Thượng điện đã góp phần làm cho ngôi đền không những có giá trị về lịch sử mà còn có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật, là một di sản văn hoá vô giá.
     Đền Cả Du Đồng được xếp hạng “Di tích kiến trúc nghệ thuật”, di tích đầu tiên của huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh được công nhận cấp Quốc gia (Quyết định Bộ Văn hoá thông tin ngày 30 tháng 8 năm 1991).

 (Viết theo tư liệu Sở VHTT Hà Tĩnh và Địa chí huyện Đức Thọ)

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

BÙI SỸ ĐỒNG - GƯƠNG SÁNG PHẤN ĐẤU HỌC TẬP

BÙI SỸ ĐỒNG - GƯƠNG SÁNG PHẤN ĐẤU HỌC TẬP
                                                                                                                                                                BÙI QUANG VINH
     Dáng mảnh khảnh, lại đeo kính tưởng như yếu ớt, nhưng ý chí, nghị lực phấn đấu học tập của Bùi Sỹ Đồng quả là tương xứng với thanh niên tuổi 19. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Đức Đông, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ nội là đảng viên lão thành cách mạng tham gia từ thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, cán bộ chủ chốt của cấp uỷ Đảng lãnh đạo cướp chính quyền tại địa phương trong cách mạng tháng 8/1945, ông nội là bộ đội chống Pháp, bố là quân nhân đã từng tham gia chiến trường K, hiện là công an xã, anh chị đều tốt nghiệp đại học đang là cán bộ nhân viên nhà nước. Đức Đồng là xã miền thượng Đức Thọ, một loại xã khó khăn. là cái nôi giáo dục của nửa huyện Đức Thọ từ xưa, nơi có đền Hàng Tổng thờ phúc thần Bùi Thúc Ngật, người có công khai phá ruộng đồng, phát triển nông nghiệp và mở mang trường học từ cuối thế kỷ 17, là ông Tổ của một chi họ Bùi trong Đại tôn Bùi tộc xã Đức Đồng mà Bùi Sỹ Đồng là hậu duệ đời thứ 15. Đức Đồng còn là vùng tự do suốt chín năm chống Pháp, trường học ở đây theo chế độ mới liên tục từ những năm 1947, 1948. Những thế hệ học sinh thời này đã sản sinh cho Đức Đồng hàng chục cán bộ trên đại học, hàng trăm cán bộ đại học, đã, đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước, trong đó có Trung tướng PGS TS Nguyễn Tuấn Dũng hiện là Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐNDVN.
     Tuy nhiên trong điều kiện khó khăn của một thờ kỳ dài kinh tế hợp tác xã kiểu cũ, việc học hành của con em xã Đức Đồng nói riêng, huyện Đức Thọ nói chung có phần sút kém. Riêng nhà em Bùi Sỹ Đồng thì khác, kinh tế gia đình cũng không phải khá giả, dù khó mấy thì khó, vẫn quyết tâm đảm bảo cho con cái học hành đến nơi đến chốn, có công ăn việc làm tử tế. 
     Đó là nói về môi trường và khách quan. Việc học hành, xét đến cùng vẫn phụ rhuộc vào chính vào bản thân các học sinh, chủ thể tự thiết kế và thi công cuộc đời của chính mình ngay từ những ngày còn ngồi ở ghế nhà trường. Chính em Bùi Sỹ Đồng đã ý thức được điều này khá sớm. Bốn năm học tiểu học, Đồng luôn là học sinh gương mẫu, chăm chỉ, luôn đạt học sinh xuất sắc, là học sinh giỏi cấp huyện. Bốn năm học trung học cơ sở, luôn đạt học sinh giỏi và nhiều danh hiệu khác. Ba năm học cấp 3, khó khăn nhiều hơn, không còn học tại xã, phải đi xa hơn 10 cây số học trường huyện. Đã vậy, bước sang tuổi đoàn viên thanh niên, phải giúp đỡ gia đình, làm việc đồng áng hàng ngày, sau mỗi buổi học. Mặc dù vậy, Đồng vẫn đạt được những thành tích học tập mà bạn bè phải mơ ước. Suốt 3 năm cấp 3, Đồng luôn là người dẫn đầu về học tập, đạt học sinh giỏi cấp tỉnh môn hoá học. Với mơ ước sau này trở thành một người công tác trong lĩnh vực ngân hàng, Đồng đã trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh năm học 2009-2010 vào Học viện Ngân hàng. Với kết quả thi tuyển sinh khối A 27 điểm, Đồng là một trong những thí sinh đạt điểm cao của Học viện Ngân hàng và là học sinh đạt điểm thi tuyển sinh cao nhất trường phổ thông cấp 3 Đức Thọ từ trước tới nay.
     Chính nhờ kết quả phấn đấu học giỏi liên tục 12 năm phổ thông và thi tuyển sinh đạt điểm cao nên trong dịp đầu năm học 2009-2010, Bùi Sỹ Đồng đã vinh dự nhận được danh hiệu HOA TRẠNG NGUYÊN cho học sinh xuất sắc khối trung học phổ thông toàn quốc mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tuyên dương khen thưởng nhân dịp khai giảng năm học 2009-2010.
     Bùi Sỹ Đồng xứng đáng là tấm gương vể phấn đấu học tập cho con cháu họ Bùi xã Đức Đồng nói riêng, cho các cháu Bùi tộc cả nước nói chung. Chúc em Bùi Sỹ Đông, hiện là sinh viên Học viện Ngân hàng đạt được nguyện vọng trong cuộc đời mình bằng con đường học tập không mệt mỏi nhân dịp tết Canh Dần 2010.