Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

NÉN HƯƠNG THẮP VỌNG NGÀN XƯA

NÉN HƯƠNG THẮP VỌNG NGÀN XƯA

     Những ngày cuối cùng của năm Canh dần miền Bắc rét đậm, ở vùng núi có nơi nhiệt độ xuống âm không độ. Giỗ hai tướng công Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê và 500 nghĩa binh dưới cờ Tướng lệnh của hai cụ, ngày 15 tháng chạp năm Canh Dần, ngày giáp tết tê buốt vì giá lạnh. Nhưng ngày giỗ hôm nay lại bừng lên một không khí lễ hội linh thiêng, bên những tán cọ xanh rờn, như cờ như lọng, giữa khung trời sương trắng mờ ảo của vùng kinh đô tiền sử Phong Châu.
     Giỗ hai tướng công Bùi Thạch, hàng năm vào ngày rằm tháng chạp âm lịch. Tuy năm nay thời tiết khắc nghiệt, nhưng con cháu về tề tựu khá đông, nhiều cụ tuổi ngoại tám mươi, các anh chị là cán bộ, viên chức, thanh niên năm nay về giỗ tổ, nhiều hơn năm ngoái. Đoàn Thái Bình, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang v.v… Riêng đoàn Vĩnh Bảo – Hải Phòng, các cụ xuất phát ở địa phương 3 giờ sáng, nhưng do chưa biết đường, đi thẳng lên Việt Trì lòng vòng hơn ba trăm cây số, mãi tận 10 giờ mới tới được mộ Tướng công để dâng lễ. Đoàn Ban Thường trực họ Bùi Việt Nam, do Giáo sư – Thiếu tướng – Anh hùng Lực lượng vũ trang Bùi Đại dẫn đầu. Tất cả tập trung tại nhà cụ Bùi Đình Cư đông tới hơn hai trăm người. Gia đình cụ Cư là dòng tôn thất của hai tướng công anh em ruột Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê. Trong ngôi nhà bình dị, khá khiêm nhường, phần trang trọng nhất của ngôi nhà, con cháu đã dành ra truyền đời 1958 năm thờ bài vị hai Tướng công Bùi Thạch. Từ khi có Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam mở rộng thông tin đến nay, gia đình cụ Cư phải lĩnh thêm phần đón tiếp, hướng dẫn, tổ chức thăm viếng phần mộ và giỗ tết hàng năm của con cháu họ Bùi thập phương về lễ tổ. Đây cũng là một trách nhiệm nặng nề hơn đối với một gia đình vùng trung du, thuần nông của cụ. Nhưng lòng hiếu khách của cụ Cư và gia đình, chi họ Bùi ở Hiền quan thật chu đáo vẹn toàn, sâu nặng. Hẳn ai đã đến một lần, chắc không thể nào quên nghĩa cử ấy.
     Trước khi ra mộ dâng hương, tại gia đình cụ Cự có buổi gặp mặt thân tình, giới thiệu giao lưu nhỏ với các cụ và con cháu dòng họ. Tại buổi giao lưu năm nay, Nhà giáo Bùi Ngọc Đào, Ủy viên Hội đồng Trưởng lão họ Bùi Việt Nam – Chủ tịch Hội đồng Trưởng lão tỉnh Phú thọ. Đã thay mặt BLLHB tỉnh Phú Thọ, đánh giá khái quát cao các hoạt động của bà con họ Bùi trong tỉnh một năm qua. Đó là sự phấn đấu năng động và trí tuệ, đã đưa đến kết quả UBND tỉnh Phú Thọ ra quyết định xếp hạng Khu di tích lịch sử Rừng Cấm – Giếng Mỏ. Đây là sự vinh danh- sự trở lại, thổi bùng lên ý chí quật cường của 500 nghĩa binh tướng sĩ, đã đánh giặc đến hơi thở cuối cùng và tử tiết vì non sông đất Việt. Trong đó có hai vị tướng công Bùi Thạch là linh hồn, là ngọn cờ lộng gió của Khu di tích lịch sử Rừng Cấm – Giếng Mỏ. Ông đã điểm lại những mốc quan trọng, những tiến bộ của con cháu trong dòng họ vươn lên trong năm 2010, có sự dẫn dắt chỉ lối và hồng phúc tổ tiên soi tỏ. Ông cũng kiến nghị với BLLHBVN một số công việc thiết thực của dòng họ chúng ta năm 2011.      
     Hai mộ viễn tổ Bùi thạch đã đặt dấu ấn cho trang sử mới, ngày giỗ tổ của ta, nay -  là “Ngày Giỗ trận”. Nói theo cách nói của Tiến sĩ Bùi Phúc Khánh, Trưởng ban liên lạc họ Bùi tỉnh Phú Thọ là , “ các cụ nhà ta đã vào biên chế Nhà nước”. Vâng, đúng vậy! Vì ngày 8 tháng 1 năm 2011, UBDN tỉnh Phú thọ đã ra quyết định xếp hạng Khu di tích lịch sử Rừng Cấm – Giếng Mỏ, là khu di tích lịch sử cấp tỉnh. Cũng có nghĩa rằng, sự kiện lịch sử diễn ra tại mảnh đất oanh liệt này, đã cách đây đã gần hai ngàn năm, nay mới được “khởi động lại” để đi vào chính sử. Quyết định này đã như một sự “ kích hoạt” mới vào niềm tự hào, tinh thần yêu nước của trăm họ trên mảnh đất vốn quanh năm tĩnh lặng đìu hiu, để hôm nay người dân nơi đây đi Giỗ - cũng là đi Hội ! Đó chính là khát vọng tôn vinh, tướng sĩ cùng năm trăm nghĩa binh quê hương đã chiến đấu chống giặc Mã Viện xâm lược ( năm 43 sau Công nguyên) và họ đã tử chiến vì quê hương đất nước. Hôm nay mới được ghi danh.  Nhưng cao hơn ở đâu đó, tôi còn thấy được hình bóng tướng công cùng 500 nghĩa binh sinh tử một thời, đang hiện về ầm ào trong tiếng gió, trong những làn mây mỏng manh xuống thấp, trong tiếng rung nhẹ mơ hồ của Rừng cấm xanh non, trong hạt mưa thưa nhặt nối đất với trời. Tất cả hòa quyện tuôn chảy từ dòng máu tiền nhân, đến con cháu mọi miền đất nước hôm nay, một khí phách anh hùng vọng tự ngàn xưa. 
     Khi lễ trọng được tiến dâng lên nhị vị Tướng công và linh hồn của các nghĩa sĩ cùng 500 trăn bộ binh phục vàng mã, ngựa chiến, hương hoa quả phẩm trong khói hương ngút ngàn linh khí. Tiến sĩ Bùi Phúc Khánh, Trưởng BLLHB Phú thọ long trọng đọc “Văn Tế Giỗ Trận”. Ông ca ngợi những chiến tích oai hùng của 500 trăm nghĩa binh cùng hai vị tướng công Bùi Thạc Đa, Bùi Thạch Đê về tụ nghĩa dưới cờ công chúa Thiều Hoa, thời Trưng Nữ Vương phất cờ khởi nghĩa cứu nước , trả thù nhà. Bài Văn tế nhấn mạnh đến sự hy sinh quả cảm của 500 nghĩa binh, thà làm ma đất Việt, chứ nhất định không can tâm rơi vào tay giặc. Khí tiết ấy đã để lại một tấm gương chói lọi, bất diệt cho hào khí non sông, đất Việt. Chính gương hy sinh cao cả ấy của các nghĩa binh, đã đưa mảnh đất Rừng cấm – Giếng mỏ, trở thành Khu di tích lịch sử, để đời đời con cháu noi theo. Cũng tại buổi giỗ trận hôm nay, trong không khí trang nghiêm bên phần mộ của hai tướng công Bùi Thạch và lễ tạ binh sĩ của Người. Giáo sư- Thiếu tướng Bùi Đại đã đọc một bài diễn văn quan trọng, Thiếu tướng ca ngợi công lao các vị dũng tướng và binh sĩ đã cùng hai vị Tướng công chiến đấu chống kẻ thù xâm lược từ phương Bắc xuống. Chiến công ấy của nhà nước sơ khai, nhưng nó là ý chí quật cường của cả một dân tộc, sẵn sàng hy sinh để gìn giữ từng tất đất non sông của tổ quốc. Thiếu tướng cũng trân trọng cảm ơn lãnh đạo tỉnh Phú thọ đã quyết định xếp hạng Khu di tích lịch sử. Đây không chỉ là niềm vui với người họ Bùi, mà còn là niềm tự hào về truyền thống chống ngoại xâm của cả Việt Nam chúng ta.
     Một sự linh thiêng đến bất ngờ, khi Tiến sĩ Bùi Phúc Khánh làm lễ dâng hương cho 500 nghĩa sĩ và thập loại chúng sinh. Thì bát hương trên Ban thờ hai dũng tướng Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê bùng bùng bốc cháy, tạo lên  ngọn lửa rực rỡ như một bó đuốc. Đây là lần thứ hai tôi chúng kiến, năm ngoái cũng vào thời khắc thiêng liêng này, bát hương đã bốc cháy dưới trời mưa bay nặng hạt. Điều ấy có thể đã cho chúng ta một niềm tin, một niềm tin không vô tình, mà nó là thông điệp gửi về từ nguồn cội sâu xa !
     Thay cho lời kết, người viết bài này xin có một ý kiến nhỏ :
- Khu di tích và hai mộ tướng công họ Bùi, là Di tích cấp tỉnh. Nhà nước có ngân sách đầu tư, nhưng mức độ còn hạn chế. Vì vậy con cháu họ Bùi cần phát tâm công đức, thì việc xây dựng Lăng mộ hai cụ mới khang trang được.
- Cho dù quần thể Khu di tích có được xây dựng khang trang, thì nơi thờ chính Bài vị hai tướng công Bùi Thạch, vẫn phải là nhà cụ Bùi Đình Cư. Vì đây chính là tôn thất, nơi thờ hai tướng công gần hai ngàn năm qua. Cả họ phải xem đó như là “ trụ sở chính”.  Đã đến lúc BLL nên có những chủ trương vận động ủng hộ, để gia đình cụ Cự có điều kiện nâng cấp nơi thờ hai tướng công họ Bùi khang trang hơn, xứng tầm với võ công hiển hách của viễn tổ chúng ta.

                                                                               Hiền Quan, ngày 15 tháng chạp Canh Dần   
                                                                                                       Bùi Hoa Nam

Quê của Bùi Bị

Quê của Bùi Bị
                                                                                                                Phí Văn Chiến 
     Trong bài viết về Bùi Bị, tác giả Mạnh Hà có một sự nhầm lẫn rất quan trọng, đó là nơi sinh của Bùi Bị. Tác giả cho rằng Bùi Bị quê ở Hào Lương, nhưng sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, trang 765 quyển thứ 13,có viết rất rõ" Bùi Bị người làng Hào Kiệt, huyện Thiên Bản, nay là huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định". Chúng tôi đã đi thẩm tra và khẳng định điều ghi trong Khâm định là đúng, ở đây vẫn thờ Bùi Bị. Cũng xin nói luôn, Bùi Bị là con trai Bùi Quốc Hưng, Bùi Quốc Hưng là con Bùi Mộc Đức, Bùi Mộc Đức là con trai Bùi Mộc Đạc. và...Bùi Mộc Đạc, chính là Phí Mộc Lạc, được vua Trần Anh Tông cho đổi sang họ Bùi vào năm 1304 (Đại Việt sử ký toàn thư)
Về cụ Bùi Mộc Đức và Bùi Quốc Hưng
                                                                                                                Phí Văn Chiến 
     Tôi là Phí văn Chiến ở Hội đồng Phí tộc Viêt Nam, tôi đang sưu tầm tài liệu để viết về dòng họ Bùi gốc họ Phí tại Thanh Hóa. Bà con trong họ Bùi, nhất là họ Bùi ở Tống Sơn cũ, nay là Hà Trung Thanh Hóa, có ai thờ Bùi Mộc Đức, và Bùi Quốc Hưng, tha thiết nhờ bà con cho chúng tôi biết địa chỉ nơi ở, số điện thoại đê bàn và di động, chúng tôi xin được đến tận nơi để trao đổi tài liệu gốc về hai cụ này. Rất mong bà con họ Bùi ở Thanh Hóa giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tập biên niên sử về dòng họ Bùi lớn đương đại này! Chân thành cảm ơn bà con.
     Liên lạc: Phí Văn Chiến. 0438547801. 0988553051. mail: phitocvietnam2007@yahoo.com

DANH TƯỚNG BÙI VĂN KHUÊ

DANH TƯỚNG BÙI VĂN KHUÊ
                                                                                               BÙI ĐÌNH HIỂN


      Bùi Văn Khuê - danh tướng thời Mạc (không rõ năm sinh, năm mất), quê ở huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
     Năm Canh Tý (1600), ông chống nhau với quân Trịnh ác liệt và lập được nhiều chiến công. Vua Mạc phong tước cho ông là Sơn Quận công, rồi đổi Mỹ Quận công.
     Đầu năm 1592 tướng Nam triều là Trịnh Tùng mang đại quân ra bắc đánh Thăng Long. Mạc Mậu Hợp cũng huy động đại quân ra địch, bị bại trận vào ngày giáp tết, phải bỏ kinh thành chạy qua sông Hồng. Do sông Hồng ngăn trở, quân Nam triều chưa qua sông được. Trịnh Tùng cũng thấy chưa đủ khả năng đánh chiếm miền Bắc nên lại rút về Thanh Hóa.
     Mạc Mậu Hợp lại không lo phòng giữ, sa vào tửu sắc. Nguyễn Thị Niên thường ra vào trong cung thăm chị là hoàng hậu Nguyễn thị. Mậu Hợp thấy bà có nhan sắc, liền ngầm mưu dụ giết Bùi Văn Khuê để cướp lấy bà. Nguyễn Thị Niên sợ hãi bèn sai người hầu cận mật chạy đi báo cho Bùi Văn Khuê .
     Bùi Văn Khuê  biết chuyện, bèn mang quân tự rút về Gia Viễn rồi sai con là Bùi Văn Nguyên chạy vào Thanh Hóa xin hàng nhà Lê. Trịnh Tùng nghe tin, bèn khởi binh ra cứu Văn Khuê nhân thể đánh nhà Mạc. Quân Mạc đại bại. Nguyễn Quyện cha bà cũng dự trận này và bị bắt, sau đó bị giết trong ngục cùng các anh em của Nguyễn Thị Niên. Không lâu sau, Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt và chém.
     Bùi Văn Khuê  cùng Phan Ngạn, Ngô Đình Nga đem quân phụ trợ theo họ Mạc, chiêu an các thành thị. Nhưng chỉ được ít lâu, Phan Ngạn nghi ngờ Văn Khuê có mưu khác, liền sai người bắn chết Văn Khuê ở giữa sông.
     Truyền thuyết về đền Vực Vông kể như sau:
Vào thời nhà Mạc có một vị tướng tên là Nguyễn Quyện được lệnh đưa quân về trấn thú tại Trường Yên. Ông có người con gái tên là Nguyễn Thị Niên rất xinh đẹp, giỏi văn lại giỏi cả võ nên được ông cho đi theo mình. Trong đoàn quân của Nguyễn Quyện có hai vị quận công là Quận Mỹ Bùi Văn Khuê và Quận Kế Phan Ngạn. Trong hai người thì Quận Mỹ văn võ song toàn, tính tình lại thuần hậu khoan hoà. Còn Quận Kế thì ngược lại văn võ đều tầm thường, tính tình lại huênh hoang, hợm hĩnh hay cậy thế vương triều. Cả hai vị quận công cùng đem lòng yêu mến người con gái của Nguyễn Quyện. Sau bao lần thử thách, Nguyễn Thị Niên đã nặng lòng yêu Quận Mỹ. Còn Quận Kế cũng bao lần tìm cách quyến rũ nhưng nàng đều khéo léo từ chối. Thấy vậy Quận Kế bèn chuyển sang thuyết phục Nguyễn Quyện. Sau một thời gian bị thuyết phục, Nguyễn Quyện cũng bị xiêu lòng bởi Quận Kế. Bị cha ép gả Nguyễn Thị Niên vô cùng đau khổ không muốn cưỡng lệnh cha nhưng nàng lại thú thực rằng mình đã yêu Quận Mỹ. Và nàng xin cha cho hai người được thử tài, ai thắng thì nàng sẽ lấy làm chồng.
     Lúc ấy ở đoạn Vực Vông có một vực xoáy lớn, hàng năm gây ngập lụt và tai họa cho dân làng. Vì vậy nơi đây có tục lệ hàng năm phải cúng lễ và sau đó ném một người con gái xuống vực xoáy cho thuồng luồng ăn thịt. Không làm vậy, thần sẽ dâng nước gây tai họa cho cả vùng. Bất bình trước tục lệ này nên nàng Niên yêu cầu hai người phải tìm ra cách để phá bỏ nó. Quận Mỹ thuê người lặn giỏi xuống vực xoáy thăm dò và tìm ra: do dòng chảy bị đá ngầm ngân làm đổi hướng. Năm nào nước lên to, vực xoáy càng chảy xiết thì thuyền bè càng có nguy cơ bị nhấn chìm, gây thiệt hại lớn cho người dân trong vùng. Chỉ cần kê đá xoay lại dòng chảy thì sẽ không còn vực xoáy nữa. Quận Mĩ thắng cuộc, được Nguyễn Quyện gả con gái.
     Không đạt được sở nguyện lại bị bẽ mặt vì thua cuộc, Quận Kế tìm cách trả thù. 
Hắn ép một số người dưới quyền làm sớ tâu về triều vu Nguyễn Quyện lộng quyền, tự ý phá bỏ phong tục của dân làng. Vua nghe lời Quận Kế, triệu Nguyễn Quyện về cung để hỏi tội và cử Quận Kế lên thay chức Nguyễn Quyện. Được lên cầm quyền, Quận Kế bèn cử Quận Mỹ đem quân đi chặn địch. Nhân cơ hội này, Quận Kế sai một tên tử tù trà trộn vào quân địch dùng mũi tên độc bắn chết Quận Mỹ tại trận. Lúc đó, có một người lính rất yêu quý Quận Mỹ và bà Niên đến ôm xác Quận Mỹ và phát hiện ra mũi tên giết ông có khắc tên Quận Kế, người lính bèn rút tên đó mang về cho bà Niên.
     Sau khi giết được Quận Mỹ, Quận Kế tìm cách để bà Niên xiêu lòng, hắn xin bà được kết nghĩa trăm năm. Mặc dù căm giận nhưng bà Niên vẫn nhận lời để tìm cách trả thù cho cha và chồng. Bà hẹn đoạn tang chồng và sau khi làm lễ tế chồng trên một chiếc thuyền đậu ở sông Hoàng Long thì sẽ kết hôn cùng Quận Kế. Đúng hẹn, bà mời Quận Kế xuống thuyền chuốc rượu. Đợi đến lúc hắn say, bà cho người trói hắn lại và kể tội hắn đã hại cha bà và giết chồng bà. Uất hận, bà sai chặt đầu Quận Kế đem tế chồng. Sau đó, bà nhảy xuống sông tuẫn tiết, thi hài bà trôi dạt vào vực Vông. Thương tiếc và biết ơn bà, nhân dân đã lập đền thờ bà ngay cạnh đó và gọi là đền Vực.
     Ngày nay, khi đến Ninh Bình, ngoài việc thăm các điểm du lịch khác du khách có thể đến thăm đền Vực, thắp hương để tưởng nhớ về một người phụ nữ tài hoa, tiết nghĩa – vợ của danh tướng Bùi Văn Khuê..
     Hai con của Bùi Văn Khuê là Lễ Quận Công Bùi Thì Trung chức Đô đốc Hiệu lực tứ vệ quân sự bộ Lễ. và Nhai Quận công Bùi Khắc Kiệm chức Hiệu lực vệ quân đều là tướng tài. Các ông, được thờ ở miếu Trường An, và thân phụ hai ông cũng thờ ở đấy.
     Quần thể đền Đinh Lê được thi công dưới sự chỉ đạo của quận công Bùi Thì Trung, dưới sự bảo trợ của chúa Trịnh Tùng. Chiếc bia “ Tiền triều Đinh Hoàng Đế miếu công đức tịnh minh” trong nhà bia đền vua Đinh đã ghi lại việc này.
     Gia đình Bùi Văn Khuê có tới 5 Quận công.
    (Theo Đại Việt sử kí toàn thư. và Khâm định Việt sử thông giám cương mục)

LỊCH SỬ KHU DI TÍCH RỪNG CẤM-GIẾNG MỎ

LỊCH SỬ KHU DI TÍCH RỪNG CẤM-GIẾNG MỎ VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA HAI BÀ TRƯNG

 Ông Bùi Phúc Khánh Trưởng ban LLHBPT

    Song Quan Trang ngày xưa là Hiền Quan ngày nay với phát tích của nhiều thần tướng được chính sử ghi nhận từ thời Hùng Duệ Vương cho tới triều nhà Đinh sau này. Nổi bật là Đông Cung Thiều Hoa Công Chúa, một nữ tướng xuất sắc của Hai Bà Trưng, vốn xuất thân đi tu tại chùa Phúc Khánh (Chùa này đã được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc Gia). Lịch sử kể lại rằng: Cùng với sự căm giận của người dân dưới thời cai trị vô cùng tàn ác của nhà Hán đô hộ nước ta, đứng đầu là Thái tú Tô Định, ý thức đánh đuổi giặc ngoại xâm đã lan trong cả nước, trong đó có Song Quan (Hiền Quan). Bà Thiều Hoa đã tuyển mộ đinh tráng tại làng và giao cho hai tướng họ Bùi (một trong 4 tộc họ lớn của làng lúc bấy giờ) là: Bùi Thạch Đa (anh) và Bùi Thạch Đê (em) chỉ huy tập luyện võ nghệ chờ thời cơ. Địa điểm được nghĩa quân chọn làm căn cứ đó là khu Rừng Cấm-Giếng Mỏ cách trung tâm xã hiện nay khoảng 3 km. Tại nơi đây có vị trí địa hình hết sức đặc biệt: một loạt các dải đồi hình cánh cung nhìn ra cánh đồng chiêm chũng, trước mặt nổi lên các quả gò nhỏ hình dáng đặc biệt: Chính giữa là gò hình tam giác từ xa xưa cho tới nay dân địa phương vẫn đặt tên gọi là gò Mon Cờ, tay phải là gò hình dẹt gọi là Gò Chiêng, tay trái là gò hình chiếc trống trận gọi là Mom Trống, kế tiếp là quả gò tương đối bằng phẳng gọi là gò Mã, xa hơn gọi là gò Cung… dưới chân đồi chính có một giếng nước chảy liên tục kể cả mùa khô, nước trong vắt (cung cấp nước dùng cho quân sỹ) nhân dân gọi là Giếng Mỏ. (Tương truyền trước đó có một tảng đá lớn bằng chiếc chiếu đôi, nhưng sau một đêm mưa lớn tảng đá biến mất, mọi người cho là vua Thủy Tề đã cho quân khiêng đi !? ). Vì là rừng cấm nên rất ít người qua lại, đảm bảo được bí mật, “Khu rừng Hạ Khê hoang vắng, giáp Châu Thanh Xuyên, cách Song Quan chỉ có 3 dặm đường là nơi ẩn mình tụ nghĩa” (Trích: Nguyễn Khắc Xương: Nữ tướng thời Trưng Vương-Truyện dã sử).
     Tại đây nghĩa quân được tập luyện võ nghệ để dâng cao được sức lực và ý trí chiến đấu, bà Thiều Hoa còn cho quân sỹ chia thành 2 phe (Giáp Thượng và Giáp Hạ) tranh cướp quả phết trên một bãi đất trống, ai cướp được quả phết ra ngoài phạm vi có cắm cờ là thắng cuộc, chính vì vậy ngày nay tại Hiền Quan còn có lễ hội kéo quân ném phết để diễn lại tích này.
     “ Khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa cô lấy việc anh hùng trung nghĩa ấy làm hâm mộ vô cùng, liền đứng ra mộ tại làng cô ấy, lấy 500 lực sỹ đem về Hát Giang vào hầu bà Trưng Trắc, tình nguyện đem quân đến giúp bà dẹp giặc. Bà Trưng Trắc lấy làm bằng lòng lắm, liền ban khen và cảm tạ Hoàng Thiên giúp bà một sự rị thường như vậy. Bà phong cho cô (Thiều Hoa) làm đông cung tướng quân và sai cùng tả thị tướng quân Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê đi đánh giặc. Tô Định bại trận tẩu thoát đi mất. Sau chiến thắng đánh đuổi giặc Hán, hai bà lấy được 65 tỉnh, thành và lên ngôi vua (Kinh Kỳ đóng tại Lĩnh Nam-Mê Linh) bà Thiều Hoa xin vua cho được dẫn quân về lại Song Quan nuôi quân lập ấp, 2 tả tướng quân được phong chức Quận công, được cấp đất đặt tên là cánh đồng Bùi. “Ít lâu sau bà Thiều Hoa đã hóa tại khu đất hình con rùa gần bờ Sông Thao, dân sở tại đem sự tích tâu vào bộ, vua Trưng Vương liền hạ lệnh cho xã Hiền Quan lập một ngôi đền phụng sự bà và phong cho bà làm chức: Phụng vương Công Chúa” (Văn phòng chánh sứ Nickel soạn ngày 24/01/1928 và những phụ nữ huyền thoại. Trung tâm thông tin Hội LHPN Việt Nam).
     Như vậy bà Thiều Hoa đã mất trước khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, (năm 43 SCN) từ đây đội nghĩa quân lúc này do hai vị tướng quân họ Bùi lãnh đạo đóng tại Song Quan.
     Năm 42 (SCN) Mã Viện đem quân đánh chiếm lại nước ta, sau cuộc chiến ở Lãnh Bạc, hai bà rút về Cấm Khê chặn giặc (Một số tư liệu cho rằng Cấm Khê là huyện Cẩm Khê ngày nay). Tại đây đội quân của hai ông tướng công Bùi Thạch Đa, Bùi Thạch Đê đã sát cánh cùng các đạo quân khác của hai bà giao chiến đẫm máu với giặc nhà Hán, trong đó có nữ tướng Xuân Nương. Khởi nghĩa ở xã Hương Nha-Tam Nông, được phong: Đông cung Công Chúa, chức nhập nội trưởng quản quân cơ nội các.
     Tại Cấm Khê dựa vào phòng tuyến Sông Thao và địa thế đồi núi, quân ta đã giao chiến với quân Hán do Mã Viện chỉ huy. Song do tương quan lực lượng, thế giặc quá mạnh, hai bà phải rút về Hát Giang cố thủ, các dũng tướng người bị thương, người tử trận (Xuân Nương bị thương chạy về xã Nam Cường sau phải gieo mình xuống Sông Hồng tự vẫn tại Cổ Tuyết-Hương Nộn). Tương truyền bà lấy chồng là Thi Bằng em trai Thi Sách: chồng của Bà Trưng. Hiện có đền thờ tại xã Hương Nộn. (Tác giả Trần Hồng Đức, báo người cao tuổi 5/3/2008).
     Tương truyền hai ông tướng Bùi Thạch Đa – Bùi Thạch Đê đem quân bản bộ đánh chặn ở Cấm Khê rồi lui về phòng tuyến Sông Bứa, sau rút về căn cứ tại Khu Rừng Cấm – Giếng Mỏ để tổ chức cầm cự. Chính tại đây trong một trận tử chiến với quân Hán hai ông đã anh dũng hy sinh tại trận, đó là vào ngày 15/12/43 sau Công nguyên (hiện là ngày giỗ tổ họ Bùi ở Hiền Quan). Quân sỹ đã chôn hai ông tại khu đất đồi Giếng Mỏ. Mộ của 2 vị tướng Viễn Tổ họ Bùi được thờ cúng từ đó tới nay đã trải qua gần 2000 năm.
Hàng ngàn năm nay, từ đời này qua đời khác như dòng chảy xuyên suốt của lịch sử, 9 chi họ Bùi ở Hiền Quan vẫn cứ đến ngày 15/12 Âm lịch hàng năm thành kính làm lễ giỗ tổ.
      * Các di tích liên quan trong cụm di tích:
   - Khu Rừng Cấm – Giếng Mỏ có hai ngôi mộ cổ nơi an nghỉ của hai vị tướng thời Hai Bà Trưng: Tả Thị tướng quân - Quận công Bùi Thạch Đa – Bùi Thạch Đê.
   - Đặc biệt có 2 câu đối tương truyền do nhà bác học Lê Quý Đôn soạn ghi:
“ Đức thụ thâm căn lưu thiên cổ
Bùi tộc thanh hương kế vạn niên”
Tạm dịch: “Cây đức rễ sâu truyền vạn thuở
                   Họ Bùi tiếng tốt để muôn sau”
   - Một mỏ nước tạo thành giếng có nước chảy quanh năm dưới chân đồi, nơi lưu nhiều truyền thuyết về vua Thủy tề lấy đá, cũng là nguồn nước nuôi quân khởi nghĩa ngày xưa (Tên của giếng cũng được lấy đặt tên cho đồi gọi là đồi Giếng Mỏ).
   - Quần thể các gò đồi có hình dáng đặc biệt liên quan đến các binh khí trong trận mạc: Gò Mon Cờ, gò Trống, Gò chiêng, Đồi mã, Gò cung ... các địa danh rừng cấm, cổng đồn ...
   - Về di tích văn hóa phi vật thể có lễ hội kéo quân, đánh phết ngày 12, 13 tháng giêng tại xã Hiền Quan.
     Căn cứ vào các tư liệu, tài liệu được ghi chép trong chính sử, cũng như các thông tin, truyền thuyết qua nhiều đời truyền lại, cùng với các di tích lịch sử liên quan tại xã Hiền Quan (chùa Phúc Khánh, đền thờ Công Chúa Thiều Hoa) và các vùng xung quanh. Đặc biệt là sự hiện diện ngôi mộ cổ của hai vị tướng quân họ Bùi đã có thể khẳng định: Khu vực Rừng Cấm – Giếng Mỏ là chứng nhân hùng hồn cho một thời kỳ lịch sử vô cùng vẻ vang của dân tộc trong cuộc chiến đấu anh dũng chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Nơi đây vừa là căn cứ địa vừa là tử địa của nghĩa quân.
      Căn cứ luật di sản văn hóa ngày 29/6/2001, UBND tỉnh Phú Thọ đã có quyết định số 4206/QĐ-UBND ngày 14/12/2010 xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh: Địa điểm lịch sử Rừng Cấm – Giếng Mỏ xã Hiền Quan – Huyện Tam Nông.
                   BLLHB Phú Thọ
Bùi Phúc Khánh

BÁC SỸ BÙI HUY PHÚ

 PGS TS BS Bùi Huy Phú là người“không màng công danh, phú quý, không màng tiền bạc, trả công. Chỉ trị bệnh cứu người. Phục lắm thay! Quý lắm thay”-Phạm Gia Khôi.
        Đích thị là một bác sỹ họ Bùi
       Thân tặng Thầy thuốc
              Bùi Huy Phú

        Anh là ai ?
         Anh là ngôi sao sáng
                          trên bầu trời y học
         Anh là người Thầy thuốc.
                          người nghèo yêu quý Anh,
         Anh cứu sống bao người,
                          từ cõi chết trở về.
         Anh để lại hình ảnh.
                          Lương y như Từ mẫu.
         Anh noi gương Tuệ Tĩnh
                          và Hải Thượng Lãn Ông.
         Anh sống vào thời nay
                          Kết hợp Đông Tây y.
         Anh có nhiều sáng tạo
                          Để cân bằng Âm Dương,
         Anh biét cách hài hoà
                          Ngũ hành của Trời Đất
         Anh rất thương yêu Người
                          hết lòng vì con bệnh.
         Anh Thầy thuốc của Dân
                          Cao quý hơn Huân chương,
         Anh thấy mình hạnh phúc
                          cứu được nhiều cuộc sống.
         Anh có lòng Thiện Tâm.
                          quên lợi danh tiền bạc.
         Anh sẵn có tất cả
                          Cuộc đời biết ơn Anh
         Ngẫm rằng:
         Trong Anh có cả Hoa Đà
         Biển thước chữa bệnh thật là  Thần y
         
                                 Thanh Linh 2010
                      GS TS Phạm Gia Khôi


BÀN TAY VÀNG

     Anh là ai người đời kính mến !
     Là Bác sỹ hay thần tiên ở đâu đến
     Xuống trần gian để cứu vớt những người gần chết.
     Khối óc và bàn tay vàng
     Đã mang lại cho đời bao hạnh phúc
     Anh đã cải tử hoàn sinh
     Cho họ về sống với gia đình
     Đời đẹp lắm người bác sỹ Việt Nam

                                    Thân tặng anh
                                   Ngày 15/5/2010
                         Việt kiều Viên Chăn



TRIẾT LÝ SỐNG

     Sống không giận không hờn không oán trách
     Sống mỉm cười với thử thách chông gai
     Sông vươn lên làm đẹp mãi cho đời
     Sống vui vẻ với những người chung sống
     Sống là động nhưng lòng luôn bất động.
     Sống là thương nhưng đừng chớ vấn vương
     Sông yên vui danh lợi mãi coi thường
     Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến

                    Kính tặng Anh Phú !
                        Người Anh Người Thầy
                        Giáo sư Bác sỹ
     Người thầy thuốc nhân dân
     Dù đã về hưu nhưng vẫn hướng dẫn
     Chấm luận văn Tiến sỹ, vẫn
     Cần cù miệt mài cứu nhân độ thế
     Mang lại hạnh phúc sức khoẻ cho mọi người
     Tấm gương sáng: Người Thầy thuốc
                                    Như mẹ hiền.

                                    Em của Anh

                     TS Nguyễn Văn Phúc

:Bùi Thị Hí - Nũ thương nhân đầu tiên của Việt Nam


Bình hoa do Bùi Thị Hí chế tác
GIÁO SƯ SỬ HỌC LÊ VĂN LAN:
    
                      "BÙI THỊ HÍ
-N THƯƠNG NHÂN ĐẦU TIÊN CA VIT NAM"
                                                BÀI: CODET, ẢNH: RONGDAT
     Hẹn hò mãi cuối cùng chúng tôi cũng gặp được giáo sư sử học Lê văn Lan trong một ngày tháng 3. Căn nhà trên gác hai của giáo sư làm chúng tôi sửng sốt bởi nó quá chật và hẹp, nó giống như một lối đi hình ống của khu phố cũ Hà Nội và được bao quanh bởi những giá sách cao chạm trần nhà.
Góc làm việc của ông chỉ vừa đủ lọt một chiếc ghế và khoảng không chỉ đủ để đặt một cuốn sách.Cuộc trò chuyện rất thú vị, ông đã cho chúng tôi biết hình ảnh một nữ thương nhân đầu tiên của Việt Nam –xuất hiện từ thế kỷ 15.
     Ông nghĩ thế nào khi xưa kia người ta hay nói về người phụ nữ dường như chỉ là: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” (Ca dao), hoặc: “Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Một nách năm con với một chồng?” (Tú Xương) thưa ông?
     Gần đúng như vậy, chỉ trừ những nhân vật kiệt xuất đi vào lịch sử nước nhà như Hai Bà Trưng, Ỷ Lan… còn đa phần đều lầm lũi như câu thơ của Nguyễn Du: “Đau đớn thay phận đàn bà…”. Chữ “đàn bà”, đi với chữ “phận” gây nhức nhối và thương cảm. Ở đây, sự bạc mệnh cũng như một tiền định, một số phận chung nói về người phụ nữ. Tôi còn có thể nêu ra nhiều dẫn chứng khác. Chẳng hạn như người phụ nữ xưa, họ ao ước cái gì? “Trời mà bắt chết thời thôi/ Nếu còn để sống tôi sẽ no xôi chán chè”. Ước mơ chỉ là một bữa no - rất đơn giản vậy thôi. Sự chịu đựng hiếm có của người phụ nữ Việt Nam bình thường, mà phải đón nhận nó một cách “dễ chịu” và cam phận. Nó trở thành một tính cách, một thước đo của người phụ nữ Việt Nam kể cả trong tình yêu: “Cơm ăn mỗi bữa một lưng/ Nước uống cầm chừng để dạ thương anh!”. Hay “Thân em như giếng giữa làng/ Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”.
     Dường như cái câu “Đàn bà thì làm được cái gì” giờ đây không còn chỗ đứng nữa thưa ông?
     Vua Lý Thánh Tông trong một lần chinh chiến thất bại, khi trở về kinh thành, nghe dân chúng ca ngợi nguyên phi Ỷ Lan đã thay ông chấp chính điều hành việc triều chính làm cho con dân no ấm, Ngài bỗng cảm thấy hổ thẹn và thốt lên rằng: Người kia là đàn bà mà làm được như vậy, huống chi ta là nam nhi!”. Đức vua đã quay trở lại và đánh tan quân giặc. Bây giờ, chúng ta ảnh hưởng văn minh phương tây, đến “chớ có đánh phụ nữ cho dù chỉ bằng một cánh hoa”, chứ đừng nói chi việc coi thường đàn bà như câu nói trên nữa”.
     Liệu ông có thế đi suốt chiều dài lịch sử để tìm được một tấm gương nữ doanh nhân nào sớm nhất của Việt Nam không?
     Tôi thấy đây là một câu hỏi hay, nhưng tôi nói trước là các bạn có thể thấy thất vọng đấy, bởi nếu tìm ra cho được một nữ Doanh nhân ở một Việt Nam thì có vẻ là hơi khó. Đất nước ta vốn là một đất nước chỉ có 3 chữ Nông: Nông thôn, nông nghiệp, nông… dân, thì lấy đâu ra một nữ… thương nhân là một điều quá khó.
     Vậy là không thể tìm ra được một nữ doanh nhân giỏi như hiện nay, thưa ông?
     Rất may mắn chúng tôi vừa tìm ra một nữ doanh nhân Việt Nam ở thế kỷ 15. Điều này có vẻ là một điều đột biến. Quá trình tìm ra bà rất công phu, vất vả. Có lẽ, yếu tố may mắn phải được tính đến trong trường hợp này.
     Điều may mắn đó bắt nguồn từ đâu, thưa ông?
     Nó bắt nguồn từ một cổ vật – vốn là một chiếc bình gốm được xác định là gốm Chu Đậu tại Bảo tàng Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ. Trên chiếc bình có hàng chữ đề rõ: “Nam Sách Châu – Tượng Nhân Bùi Thị Hí Bút”. Điều rắc rối đã đến. Có rất nhiều tranh luận trong cách hiểu dòng chữ trên. “Nam Sách Châu” thì đã rõ, nó có nghĩa là “Châu Nam Sách, vùng đất Nam Sách”. “Tượng Nhân”, có nghĩa là người thợ làm ra sản phẩm này. Riêng “Bùi Thị Hí Bút”, có cách hiểu như sau: “Người phụ nữ họ Bùi viết chơi” hoặc “Người phụ nữ họ Bùi, tên Hí, đệm Thị, viết”.
     Những tài liệu này được chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp đúng không thưa ông?
     Vâng, họ đã gửi cho chúng ta từ những năm 50 của thế kỷ 20. Sau các cuộc tranh luận thì những tài liệu này vẫn cứ để ở trong Viện nghiên cứu. Cho đến tận thế kỷ 21 này, chúng tôi mới tìm thêm được nhiều chứng tích để minh chứng bà là ai.
     Vậy kết quả có đúng bà là một nữ thương nhân đầu tiên của Việt Nam không thưa ông?
     Kết quả thật tuyệt vời. Chúng tôi đã tìm thấy trên vùng đất Chu Đậu những cổ vật mang những dòng chữ liên quan đến nữ thương nhân đầu tiên của Việt Nam. Điều may mắn là những dòng chữ này hoàn toàn rõ ràng chứ không mang tính hai mặt như dòng chữ trên chiếc bình gốm Chu Đậu tại bảo tàng Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Sau khi kiểm chứng, có những cổ vật mang chữ “Bùi Thị Hí Tạo”. Vậy có nghĩa là “Người phụ nữ họ Bùi, tên Hí, đệm Thị đã tạo ra những vật này”. Tại các vùng mộ địa, có bia mộ bà Bùi Thị Hí do người chồng thứ hai của bà lập ra. Có nghĩa bà Hí đã có một đời chồng, sau khi người chồng đầu tiên mất, để lại cơ nghiệp cho bà, bà đã tạo lập nên các xưởng gốm, lò gốm và các sản phẩm gốm Chu Đậu gần như đầu tiên của làng. Sau đó, bà Hí lấy người chồng thứ hai và mất trước ông chồng thứ 2. Người chồng này đã lập bia mộ khắc rõ tiểu sử sự nghiệp của người đàn bà tài giỏi. Đọc kỹ bia mộ, chúng tôi thấy rằng, bà còn là cháu nội của Công thần Lam Sơn khởi nghĩa Bùi Quốc Hưng.
     Như vậy nữ thương gia đầu tiên của Việt Nam đã xuất hiện từ thế kỷ 15 và bà còn là con cháu dòng dõi Công thần, nhưng điều gì đã chứng tỏ sản phẩm gốm của bà đã vươn tới tận Thổ Nhĩ Kỳ chứ không phải do nó qua tay các nhà… buôn cổ vật?
     Điều quan trọng hơn cả, để chứng tỏ bà là một nữ thương gia, trước hết là việc bà làm việc với tư cách là một người thợ, sau đó là chủ lò gốm, chủ thương đoàn dùng thuyền mang hàng hóa sản phẩm ra nước ngoài. Chính vì thế ta mới thấy xuất hiện sản phẩm Gốm tại Istanbul tại Thổ Nhĩ Kỳ. Người ta thường hay gọi các thương đoàn đó là hải đoàn chuyên xuất khẩu hàng hóa. Sầm uất nhất vẫn là các hải cảng Vân Đồn hoặc trong Hội An.
     Ngoài ra có chi tiết gì lý thú quanh cuộc đời người nữ thương nhân thế kỷ 15 Bùi Thị Hí nữa không thưa ông?
     Có một tấm bia tại một ngôi chùa làng Chu Đậu ghi rõ ngôi chùa do bà Bùi Thị Hí bỏ công đức ra xây chùa. Điều này đã nêu lên được phẩm chất của người nữ nhân này. Bà thường xuyên xây chùa và các công trình phúc lợi cho vùng Chu Đậu. Tôi thấy rằng, trong 30 năm ta mới phát hiện và khẳng định được sự nghiệp lớn của một người đàn bà Việt Nam kinh doanh giỏi lại có tài năng, sự nghiệp lớn và tâm hồn lớn. Càng thấy đặc biệt hơn nữa, đây là trường hợp nữ doanh nhân duy nhất đã tìm thấy trên một đất nước chỉ gắn với 3 chữ nông.
     Với tư cách là một giáo sư sử học, ông có nhận xét gì về các nữ doanh nhân hiện nay?
Cả nghìn năm, ta mới có một nữ doanh nhân Bùi Thị Hí, đến giờ có lẽ đã có hàng ngàn nữ doanh nhân. Đây quả là một sự đột biến chăng? Nó bao hàm cả việc đời sống giới nữ nói chung đã có chuyển biến tiến bộ thế nào trong lịch sử và truyền thống. Tuy nhiên, tôi luôn lo ngại đến một sự đứt gãy truyền thống.
     Có sự kết nối, kế thừa truyền thống, vậy sự đứt gãy truyền thống ở người phụ nữ là gì thưa ông?
     Cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã nói: “Người đàn bà Việt Nam là người có tính dân tộc hơn ai hết”. Điều này hoàn toàn dễ chứng minh. Xin hãy lui về thời của Hai Bà Trưng, không bàn đến chủ nghĩa anh hùng của Hai Bà Trưng, mà hãy xét theo yếu tố sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam. Sau khi khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, Mã Viện đã chặt đầu Hai Bà Trưng dâng sang Hán để lập công. Mã Viện còn làm điều khủng khiếp đó là tàn sát tù đày những người đàn ông Giao Chỉ. Khi chúng rút quân về nước để lại những người đàn ông được gọi là “Mã Lưu Nhân”. Lúc này dân số Giao Chỉ theo kết cấu: Chồng người Hán, vợ người Việt. Cuộc hôn nhân này sinh ra những đứa trẻ gốc Hoa. Từ cuộc chiến tranh trên bình diện kẻ thống trị và nước thuộc địa trở thành cuộc chiến tranh gia đình. Tỷ lệ những đứa trẻ Hán tăng lên, 50% con cái dòng máu Hán, 50% dòng máu Việt. Nhưng điều kỳ diệu, đó là những người mẹ Việt thường rất “Hám con”. Tôi xin sử dụng từ “Hám”, họ quên mình vì con cái, chính họ, những người đàn bà Việt, đã giữ được tâm hồn Việt cho con cái mình, qua lời ru tiếng hát, qua những câu chuyện kể và dòng sữa Việt. Ngày nay thì sao? Những người phụ nữ thường không còn phải có cách sống vì mọi người nữa, mà mình phải thương mình trên hết. Một số người mẹ phải mua sữa ngoại cho dù đắt bao nhiêu đi nữa, để con không phải bú làm hỏng bộ ngực của họ. Tôi xin phép không dẫn chứng nhiều ra nữa. Tôi chỉ muốn nhắc nhở rằng, nó làm cho người phụ nữ Việt đứt gãy truyền thống.
     Nữ doanh nghiệp bây giờ thì sao? Tôi rất thông cảm với họ do nhiều sức ép nếu không tìm được sự cảm thông trong gia đình hoặc biết điều hòa giữa công việc xã hội và gia đình thì khó có thể tìm thấy hạnh phúc. Họ dường như ít lo lắng cho dân tộc, tiêu chí đầu tiên, là phải kiếm tiền, hưởng thụ, những ngày nghỉ ít khi ở nhà chăm sóc cho người già, nói chuyện với những người trong gia đình… đấy là điều đứt gãy truyền thống.
     Vậy ông muốn nhắn nhủ điều gì tới các nữ doanh nhân Việt Nam?
     Tôi thấy đáng tiếc cho cuộc thi và những người dự thi Hoa hậu quý bà thành đạt. Theo tiêu chí ban tổ chức đề ra thì những người dự thi phải là người thành đạt, xinh đẹp lại tài năng, nhưng chỉ vì một danh hiệu phù phiếm mà người ta tố giác nhau, nói nhau một cách thậm tệ, mà những người đó lại được xưng là nữ doanh nhân thành đạt cơ đấy. Tôi chỉ xin các chị các em, các bà hãy dành một chút lương tri cho dân tộc này. Có thể tôi bi quan, những đây là ý nghĩ không hề đơn độc của tôi.
     Nếu được lựa chọn, ông sẽ lựa chọn người đàn bà như thế nào thưa giáo sư?
     Người đàn bà của tôi sẽ không ăn mặc áo “ra 7, vào 3”, đặc biệt, tôi không chọn người phụ nữ có tham vọng!
     - Xin cảm ơn giáo sư.