Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

BÀI TRÍ TƯỢNG PHẬT TRONG CÁC CHÙA

BÀI TRÍ TƯỢNG PHẬT TRONG CÁC CHÙA
VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

                     TS Nguyễn Mạnh Cường
    Trung tâm Trắc nghiệm Tư vấn Bồi dưỡng
I. Chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ
            Với người Việt nói chung, người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng rất thích lên chùa thăm tượng. Người Việt thường lên chùa gặp Phật và chư vị Bồ tát là để cầu, để xin. Họ xin đủ thứ nhằm mưu cầu một cuộc sống bình an hạnh phúc. Họ lên chùa với câu cửa miệng Nam mô A di đà Phật, và họ coi câu thần chú này thay cho lời chào với những người cùng lên chùa mà không biết rằng những người này có đồng môn với mình hay không? Cũng có nhiều người đến chùa đơn thuần là để thăm tượng Phật được bày trong chùa mà liên tưởng tới những giáo lý của Phật giáo rất xa xăm. Ngày nay, có nhiều người có học, có đọc tìm hiểu về Phật giáo, có nhiều người còn thuộc tên tuổi của các vị được thờ và sớm phát hiện ra rằng Phật giáo ở Việt Nam thông qua chùa, thông qua hình tượng Phật trong chùa thật là đa dạng và đặc sắc. Ở Việt Nam hiện nay có đủ các loại chùa, các loại tượng Phật khác nhau. Chùa theo dòng Đại Thừa (hay Bắc tông) ở khu vực Bắc Bộ Việt Nam; trong khi ấy những ngôi chùa theo dòng Tiểu Thừa (hay Nam tông) đang rất thịnh hành ở Nam Bộ. Còn ở miền Trung sau cả ngàn năm chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ, nay ngôi chùa mang nhiều dáng dấp của Phật giáo Trung Hoa. Đúng là chùa mỗi miền mỗi vẻ, nhưng có lẽ không có ngôi chùa nào cổ kính, trang nghiêm như các chùa thờ Phật vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi một loại hình chùa thường đi với loại bài trí tượng khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ bàn về bài trí tượng Phật trong các chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.
Vùng Châu thổ sông Hồng hay còn gọi là vùng đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của nhiều lớp văn hóa cổ của người Việt. Chính vì vậy mà người Việt cũng sớm tiếp xúc với Phật giáo. Câu truyện về Bà Man Nương Phật mẫu, cùng hệ thống các chùa Tứ Pháp là: Chùa Tổ (Mãn Xá) cùng chùa Dâu, chàu Đậu, chùa Dàn, chùa Tướng đã tạo nên hệ thống Phật Mẫu (vừa là Phật, vừa là mẫu) rất Việt Nam.
Ngôi chùa là tên gọi bình dân chịu nhiều ảnh hưởng của Ấn Độ, còn khi khai lý lịch cho các chùa chúng ta thường thấy loại văn tự Hán như: Hưng Ký tự, Phúc Nghiêm tự, Kim Liên tự… Tương tự như vậy, khi nói về Đức Phật, người miền Bắc gọi là Phật, còn người miền Nam thường gọi Bụt (Buddha). Nên thực chất dù là Phật, dù là Bụt thì cũng vẫn để chỉ Đức Phật mà thôi.
            Chùa của người miền Bắc thường có nhiều yếu tố kiến trúc những chỉ cần Tam bảo nơi để tượng Phật đủ gọi là chùa. Tam bảo gồm 3 gian nhà là Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện (hay Phật điện).
II. Các lớp tượng cơ bản trên Phật điện
Phật điện chùa thường có 4 lớp tượng Phật và nhiều ban thờ Phật và Bồ Tát khác. Bốn lớp tượng Phật đó là
1.      Tượng Tam Thế
Lớp trên cùng, ở chỗ giáp vách gần nóc nhà, có ba pho tượng nhỏ để ngang một dãy, khuôn khổ bằng nhau, hình dáng giống nhau, gọi là tượng Tam thế. Tam thế là nói tổng hợp hết thảy Chư Phật ở đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai, tức là chỗ chung cả các cõi Phật trong mọi thời gian.
2.      Lớp tượng Di Đà tam tôn
Lớp tượng thứ hai có ba pho tượng lớn: Pho tượng ngồi giữa là tượng đức Di Đà, pho tượng đứng bên trái là tượng Đức quan Thế Âm, pho tượng đứng bên phải là tượng Đức Đại Thế Chí. Ba pho tượng này thờ đức Phật và hai đức bồ tát ở Tây phương cực lạc, chủ việc cứu độ chúng sinh. Tuy cõi cực lạc là cõi Phật, nhưng có duyên với cõi sa bà là cõi trần của chúng ta, cho nên để gần hơn lớp tượng Phật tam thế.
3.      Tượng đức Thích Ca giáo chủ
       Lớp thứ ba có ba pho tượng lớn: Pho tượng lớn ngồi giữa là đức Thích Ca mầu ni, pho tượng ở bên tả hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con sư tử xanh, là tượng đức Văn Thù bồ tát, pho tượng bên hữu hoặc đứng trên toà sen, hoặc ngồi trên con voi trắng là tượng đức Phổ Hiển bồ tát.
      Ở lớp thứ ba này có nhiều chùa làm tượng Thích ca mầu ni ngồi cầm hoa sen, gọi là tượng niêm hoa  để ở giữa, bên tả là tượng Ca Diếp tôn giả vẻ mặt già, bên hữu là tượng Át Nan đà tôn giả vẻ mặt trẻ, là hai vị đại đệ tử của Phật Thích ca lúc còn ở thế gian. Tượng hai vị tôn giả ấy đều tạc đứng, hình dáng hai người tỳ kheo.
      Lớp này thờ đức Phật làm giáo chủ ở sa bà thế giới và các vị bồ tát giúp Phật mà giáo hoá chúng sinh, cho nên để gần ở ngoài.
4.      Tượng Cửu Long:
     Lớp thứ tư có pho tượng Cửu Long để giữa. Tượng này làm theo điển nói khi đức Thích ca mầu ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài tắm, đoạn rồi ngài bước đi bảy bước... tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất mà kêu lên rằng: Thiên thượng, địa hạ, duy Ngã độc tôn. Có nghĩa là: Trên trời, dưới đất chỉ có ta là tôn quý hơn cả.
     Bởi vậy tượng Cửu Long làm chín con rồng vây bọc xung quanh và ở trên những đám mây có chư Phật, chư Thiên, nhã nhạc, cờ phướn và bát bộ kim cương, ở giữa có pho tượng nhỏ, đứng một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất. Đó là tượng Đức Thích ca mầu ni lúc sơ sinh.
     Bên trái tượng Cửu Long có tượng Đế Thích ngồi ngai mặc áo đội mũ hoàng đế, bên hữu có tượng Đại Phạn Thiên cùng một kiểu như tượng Đế Thích. Đó là theo hai điển nói hai vị Đại Thiên Vương này làm chủ tể ở cõi sa bà thế giới và lúc nào cũng hộ trì đức Thích Ca khi ngài chưa thành Phật. Sa bà thế giới tức là cõi đời ta đang sống, cho nên mới để tượng Cửu Long và tượng Phạm Thiên Đế Thích ở lớp ngoài cùng.
     Những chùa thường, ở trong điện thờ Phật chỉ bày có thế thôi. Còn những chùa rộng lớn thì bày thêm hai lớp tượng nữa, được trình bày trong mục tiếp theo.
 III. Các bộ tượng đi kèm trong chùa
Tứ Thiên Vương: Ở ngoài tượng Cửu Long còn bày bốn pho tượng tứ Thiên Vương mặc áo vương phục, bày làm hai dãy đối nhau, tức là bốn vị hộ thế.
Tượng Tứ Bồ tát: Có chùa bỏ tượng tứ Thiên Vương mà bày bốn vị Bồ Tát, tạc hình thiên thần: gọi là Ái bồ tát, tay cầm cái tên ; Sách Bồ tát, tay cầm cái dây; Ngữ Bồ tát, tay cầm cái lưỡi; Quyền bồ tát, tay nắm lại và để vào ngực.
Tượng bát bộ kim cương: Có nhiều chùa tạc tượng tám vị kim cương, là thần tướng trên trời, thường gọi là bát bộ kim cương: Thạch trừ tai kim cương, Tích độc thần kim cương, Hoàng tùy cầu kim cương, Bạch tinh thủy kim cương, Xích thanh hỏa kim cương, Định trừ tai kim cương, Tử hiền kim cương, Đại thần lực kim cương.
     Bốn vị bồ tát và tám vị kim cương này, theo những điển ở trong kinh, thì có nhiều thuyết khác nhau, song đại ý nói những bậc thần đã phát bồ đề tâm, đem thân lực mà hộ Phật pháp.
     Theo cho đúng quy ước, thì ở trong điện thờ Phật phải bày như thế mới có ý nghĩa. Vì rằng Chư Phật là bậc đại giác viên mãn đã xuất thế gian rồi, thì ở xa trên cùng. Đức phật A di đà chủ việc cứu thế ở cõi cực lạc và Đức Phật Thích ca mầu ni chủ việc giáo hóa ở cõi Sa bà, thì để chính giữa điện. Các vị bồ tát là các vị có lòng từ bi bác ái đem trí tuệ và chân lý mà giúp Phật trong việc cứu độ chúng sinh, thì để hai bên cạnh Phật. Còn những bậc ở trong thế gian mà có thần uy thế lực như các vị Thiên vương và có sức mạnh rất lớn như các vị Kim Cương, thì để ở ngoài cùng để hộ trì Phật pháp.
IV. Các loại hình Tượng cơ bản trong chùa
     Chúng ta nên biết rằng trong chư Phật, chư Bồ tát thờ các chùa Việt Nam, chỉ có tượng Đức Thích Ca và Đức Quan Thế Âm là có nhiều hơn cả.
Tượng đức Thích ca có 4 kiểu như sau:
-          Tượng Cửu Long tạc theo điển tích lúc Phật sơ sinh.
-          Tượng Tuyết Sơn tạc theo kiểu đức Phật Thích Ca tu hành khổ hạnh. Hiện nay ở ngoài Bắc, chùa Tây Phương thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, có tượng Tuyết Sơn tạc rất khéo, và chùa Bút Tháp thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, có pho tượng Tuyết Sơn cũng rất đẹp.
-          Tượng thuyết pháp hay tượng niêm hoa tạc theo điển lúc Đức Thích Ca thành Phật.
-          Tượng Niết bàn tạc theo điển lúc đức Phật Thích Ca nằm nghiêng về phía bên trái. Kiểu này ở nước ta không nhiều, chỉ có bên Lào và Thai Lan, thuộc phái Nam tông mới có nhiều.
Tượng Quan Thế Âm có 6 kiểu như sau:
-          Quan Âm Chuẩn đề, theo đúng trong sách thì phải làm 3 mắt 18 tay cầm pháp bảo, nhưng thường chỉ làm có nhiều tay thôi.
-          Quan Âm ngàn mắt ngàn tay, tạc theo điển bà Diệu Thiện, nhưng thường chỉ làm 100 tay hay vài trăm tay là cùng. Chỉ có tượng Quan Âm chùa Bút Tháp, thuộc tỉnh Bắc Ninh, là được làm đúng chuẩn ngàn mắt ngàn tay. Song cũng xin lưu ý đây là tượng Quan Âm quá hải chứ không phải là Quan âm ngàn mắt ngàn tay.
-          Quan Âm đội mũ ni, hoặc đứng hoặc ngồi trên tòa sen, tay cầm lọ nước cam lộ và cành dương liễu.
-          Quan Âm tọa sơn tạc theo kiểu ngồi trên núi đá.
-          Quan Âm tổng tử hay Quan Âm Thị Kính, tạc theo điển nàng thị Kính, người nước Cao Ly, lấy chồng là Thiện sĩ, bị chồng ngờ là thất tiết, nàng bèn cải nam đi tu, pháp danh là Kinh Tâm, lại bị Thị Mầu đổ oan tình cho, nàng phải nuôi một đứa trẻ thơ, sau được chứng chính quả thành Phật. Tượng tạc theo lối ngài ngồi bế theo đứa bé ở bên cạnh có con vẹt đậu trên núi đá. Con vẹt ấy là hậu thân của Thiện Sĩ.
-          Tượng Quan Âm quá hải ở Chùa Bút Tháp là dạng tượng ngàn mắt ngàn tay ngồi bên trên. Bên dưới có con quỷ đội toà sen đưa Đức Quán Âm qua biển Nam Hải; vì vậy mới gọi là Quán Âm quá hải.
     Những tượng Quan âm ở nước ta thường là nữ tướng cả chỉ có tượng Chuẩn đề và tương Thiên thủ thiên nhãn là không phân biệt nam hay nữ.
Tượng Hộ Pháp
     Ở nhà Bái đường là nhà ngang với điện thờ Phật, các chùa thường có hai pho tượng rất lớn, mặc áo giáp đội mũ trụ, cầm binh khí, hình dáng như hai võ sĩ rất dữ tợn, hoặc đứng hoặc cưỡi trên hai con sấu. Đó là hai tượng Hộ Pháp, bên tả là vị khuyến thiện, bên hữu là vị trừng ác. Người ta thường gọi tắt là Ông Thiện và Ông Ác. Những điển nói về hai ông Hộ Pháp này có nhiều chỗ khác nhau. Nhưng chung quy cũng là hai vị thiên thần có sức mạnh chuyên coi việc hộ trì Phật Pháp.
     Những chùa thật cổ chỉ làm có một vị Hộ Pháp gọi là Vị đà thiên tướng quân, tức là một vị thiên tướng vâng sắc chỉ của Phật hộ trì phật pháp trong 3 châu là Đông châu, Tây châu và Nam châu, cho nên người ta thường gọi là Tam châu hộ pháp.
Động thập điện: Tại gian Bái đường những chùa lớn thường làm ở vách hai bên tả hữu mười cái động ở âm ty, gọi là động thập điện. Đáng lẽ nên để tượng 18 vị La Hán ở hai bên nhà bái đường, mà để trong thập điện ở hai bên dãy hành lang thì mới đúng, vì các vị La Hán là đệ tử của Phật, vâng sắc lệnh của Phật ở lại thế gian mà gửi Phật pháp. Nhưng có lẽ vì không đủ chỗ, cho nên mới để các vị La Hán ở ngoài hành lang và để ở động thập điện vào nhà bái đường. Những động này thường làm theo điển đã nói ở trong kinh Địa tạng bản nguyện, phô bày những hình phạt ở âm ty để trừng giới những kẻ gian ác. Trong các động ấy có tượng các vua diêm vương, các phán quan cùng các ngục tốt là quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa rất là hung tợn và bày ra các ngục hình, như bàn chông, vạc dầu…rất ghê rợn.
     Sách nhà Phật nói rằng: ở dưới âm ty có 10 ông vua coi 10 điện, gọi là thập điện diêm vương. Mười ông vua ấy là:
Tân Quảng Vương, coi điện thứ nhất.
Sở Giang Vương, coi điện thứ hai.
Tống Đế Vương, coi điện thứ ba.
Ngũ Quan Vương, coi điện thứ tư.
Diên Là Vương, coi điện thứ năm.
Kiến Thành Vương, coi điện thứ sáu.
Thái Sơn Vương, coi điện thứ bảy.
Bình Đẳng Vương, coi điện thứ tám.
Đô Thị Vương, coi điện thứ chin.
Chuyển Luân Vương, coi điện thứ mười.
     Theo các điển trong sách, hễ người nào chết, thì linh hồn phải qua 10 điện ấy để Diêm Vương xét hỏi các công đức và các tội lỗi mà định sự thưởng sự phạt theo cái nghiệp báo của người ấy.
     Chùa nào có động thập điện thì hay để riêng ra một chỗ ở đằng sau điện thờ Phật. Cũng có nhiều chùa không làm thành động chỉ làm tượng 10 vị Diêm Vương và đặt ban thờ hoặc ở hai bên điện thờ phật, hoặc ở hai bên nách bái đường, mỗi ban để thờ năm vị.
Tượng La Hán
     La Hán là do chữ Phạn A La Hán là những bậc đã tu đến chỗ không sinh, không tử, không có gì phải học nữa, cho nên có nghĩa là vô học, hay là vô sinh và lại có nghĩa là sát tặc, tức là nói giết được cái giặc phiền não.
     Ở chùa bên Tây Tạng, bên Tầu và Việt Nam thường làm 18 vị La Hán nhưng trong các sách chỉ nói có mười sáu vị mà thôi. Sách Pháp Trụ kí chép rằng: Mười sáu vị La Hán vâng sắc mệnh của Phật ở lại thế gian mà thủ hộ chính pháp, đến nay vẫn chưa nhập diệt.
     Mười sáu vị la hán ấy là:
1.      Tân độ la Bạt na roa xa Tôn giả (Pindola Bharadvaja)
2.      Ca nặc ca Phạt xa Tôn giả (Kanakavatsa)
3.      Ca nặc ca Bạt lị noa xa Tôn giả (Kanaka Bhadradvaja)
4.      Tô tần đà Tôn giả (Snivinda)
5.      Nặc cự la Tôn giả (Nakula)
6.      Bạt đà Tôn giả (Bhadra)
7.      Kalica Tôn giả (Karika)
8.      Phạt xa la phất đa la Tôn giả (Vajravutra)
9.      Thú bác ca Tôn giả (Svaka)
10.  Bán thác ca Tôn giả (Panthaka)
11.  Ra hộ la Tôn giả (Râhula)
12.  Na ka tê na Tôn giả (Nagasena)
13.  Nhân kết đà Tôn giả (Ingata)
14.  Phạt na bà tư Tôn giả (Vanavâsin)
15.  A thị đa Tôn giả (Ajita)
16.  Chú đồ bán thác ca Tôn giả (Cudapanthaka)
     Tương truyền rằng tượng 16 vị La Hán này là do người Quán Hưu đời nhà Lương nằm chiêm bao thấy mà vẽ ra.
     Sách La Hán đồ tán tập vẽ 18 vị, là thêm một vị tên là Khãnh Hữu Tôn giả và một vị tên là Tân Đồ Lư. Người ta cho Tân Đồ Lư chính là Tân độ la Bạt ra nọa xa, nhưng chỉ lấy hai chữ tên tự ở trên dịch hơi sai âm của tiếng Phạn và bỏ mấy chữ tên họ ở dưới đi, mà đặt ra một vị khác. Còn Khánh Hữu là dịch theo tiếng Nam đề mật đa la là tên người làm bộ sách Pháp trụ ký vào khoảng 800 năm sau khi Phật Thích ca nhập Niết Bàn.
     Lại có thuyết nói: Họ Trương ở Kim Thủy, đất Thục, vẽ tranh 18 vị La Hán và Tô Đông Pha làm bài tụng tán. Theo thuyết này thì hai vị thêm vào sau là Ca Diệp tôn giả và Quan đồ bất thần Tôn giả.
     Bên Tây Tạng, thì tương truyền rằng hai vị sau là Ma gia phu nhân và Di Lặc.
     Vậy theo đúng trong sách, thì chỉ có 16 vị mà thôi, còn hai vị nữa là người đời sau người ta nhận lầm mà thêm ra và không biết đích xác là danh hiệu người nào.
     Dù sao đi chăng nữa thì có nhiều pho tượng La Hán được làm rất nghệ thuật chứng tỏ tay nghề điêu khắc hội họa của những người thợ thủ công Việt Nam cũng đạt tới một trình độ cao, hiện nay còn nhiều chùa có nhiều tượng La Hán rất đẹp và đôi khi thấy có cả những bức tranh vẽ các vị La Hán.
Tượng tổ tây: Trên bàn thờ các vị tổ trên tăng đường, thường có một pho tượng tạc chân dung người Tây trúc (Ấn Độ), mũi cao, tóc quăn, râu quai nón, tục gọi là đức tổ Tây hay tổ Đạt Ma.
     Chính pháp danh của ngài là Bồ đề đạt ma (Bodhidharma), người dõng dõi quý tộc ở phía nam Ấn Độ, xuất giá tu hành đạo Phật và chuyên về môn thiền (Dhyana). Năm Phổ thông nguyên niên (520) đời vua Võ Đế nhà Lương, ngài đi đường biển sang Quảng Châu. Vua Lương Võ Đế mời ngài vào kinh đô ở Kiến Nghiệp tức thành Nam Kinh bây giờ. Ngài vào yết kiến vua Võ Đế, nhưng thấy vua không hiểu đến chỗ mầu nhiệm của đạo Phật. Ngài bèn qua sông Dương Tử, sang nước Bắc Ngụy, trụ trì chùa Thiền Lâm, tu pháp tham thiền, suốt ngày ngồi nhìn vào vách. Tương truyền rằng Bồ Đề Đạt Ma là tổ thứ 28 của phái Thiền tông bên Ấn Độ, sang Tầu làm sơ tổ ở cõi Đông Thổ, truyền đạo pháp và áo cà sa cho đệ tử là Tuệ Khả làm đệ nhị tổ. Ngàitích vào ngày rằm tháng mười năm Đại Thông thứ hai (530) đời vua Võ đế nhà Lương. 

     Nhìn chung, chúng tôi chỉ mới lựa chọn một số bộ tượng cơ bản của đạo Phật còn lưu trong các ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ để giới thiệu cùng bạn đọc. Rất có thể còn nhiều vấn đề khác mà chúng tôi chưa kịp giới thiệu với mọi người mong nhận được sự thế tất..

GS Trịnh Xuân Thuận tin có linh hồn tồn tại sau khi chết

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận (sinh năm 1948) là nhà khoa học gốc Việt trong lĩnh vực vật lý thiên văn, là nhà văn viết nhiều sách có giá trị cao về vũ trụ học và về những suy nghĩ của ông trong tương quan giữa khoa học và Phật giáo. Ông còn là nhà thơ, một triết gia, một Phật tử và một nhà hoạt động cho môi trường và hòa bình.
Ông đã nhận nhiều giải thưởng trong lĩnh vực thiên văn và trong lĩnh vực văn hóa xã hội: Giải Moron 2007 của Hàn lâm viện Pháp; Giải Kalinga 2009 của UNESCO về các đóng góp trong việc đại chúng hóa khoa học.

Giao lưu với sinh viên Đại học FPT (tại Hà Nội) tối 8-12, Giáo sư   gốc Việt nổi tiếng thế giới về lĩnh vực thiên văn Trịnh Xuân Thuận chia sẻ quan điểm về ngày tận thế, cũng như cung cấp nhiều thông tin bổ ích về khoa học vũ trụ.
Tin vào kiếp luân hồi
Trong buổi giao lưu, GS Thuận còn chia sẻ về thông tin ông cũng là một phật tử. Giữa Phật giáo và khoa học có những mối liên hệ tương đồng. “Giáo lý cơ bản của Phật giáo là vô thường, trùng khoa học” – Giáo sư Thuận cho hay.
Ông giải thích, vô thường trong Phật giáo nghĩa là mọi thứ đều thay đổi, vận động. Đó cũng là đề tài của khoa học thế kỷ 20. Trước kia, người ta tưởng vũ trụ là bất biến, theo quan điểm của Aristotle. Nhưng sau này, khoa học đã chứng minh, vũ trụ thay đổi. Và trong vũ trụ, mọi vật đều thay đổi. Mỗi một thứ đều được sinh ra, sống cuộc đời của nó rồi chết đi. Thứ hai, Đức Phật cũng nói rằng, mọi sự vật trên thế gian đều hiện hữu dưới hình thức các mối quan hệ.
Giáo sư Thuận cho biết, ông tin vào kiếp luân hồi. Bởi luân hồi là sự biểu hiện của những mối liên hệ với nhau. Đó là mối liên hệ giữa loài người với loài người, với các sự sống trên Trái đất. Luân hồi không phải là vật chất. Còn khoa học chỉ giải thích vật chất; tâm linh không tồn tại trong khoa học.
Khoa học có thể dự đoán được, nhưng khoa học là không đủ, con người chúng ta phải biết sống minh triết, sống có tâm linh thì mới giữ gìn được chính vũ trụ của chúng ta…” - Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói.
Có linh hồn tồn tại sau khi chết
Tại buổi trò chuyện, nhiều SV “xoáy” vào vấn đề có hay không mối quan hệ giữa nhà chiêm tinh học và thiên văn học. GS Thuận hào hứng: “Ngay từ những bước đầu thiên văn học đã song hành cùng chiêm tinh, từ 2.500 năm về trước các nhà thiên văn học của Ai Cập và Hy Lạp đã nghiên cứu về thiên văn so với chiêm tinh. Ngay từ thời đó họ đã nhìn các vì sao để biết được thời gian đánh giặc, chính quyền thời đó đã thuê các nhà chiêm tinh học để khảo cứu những hành tinh, từ đó có những phát hiện độc đáo về hành tinh như ngày hôm nay”.
GS Trịnh Xuân Thuận cho rằng, khó có thể nói được về mặt khoa học rằng, khi ra đời mỗi con người có ảnh hưởng của một chùm sao hay hành tinh nào đó, ảnh hưởng tới tính cách của từng người, vì khoa học chỉ tính được vận tốc, khoảng cách… giữa các hành tinh.
Biết GS Thuận theo đạo Phật, nhiều SV hỏi thẳng:" Luân hồi giải thích trên cơ sở khoa học như thế nào, GS có tin vào linh hồn không, linh hồn tồn tại ở đâu trong vũ trụ?"
Trả lời câu hỏi này, GS Thuận cho biết, bản thân ông là người đạo Phật, ông tin rằng khi vật chất chết đi nhưng linh hồn vẫn tồn tại nhưng tồn tại ở đâu thì ông không biết, vì ngay cả khoa học cũng không trả lời được do khoa học chỉ giải thích được về vật chất mà thôi.
Theo Xuân Trung - GDVN
Bài đã đăng ở Bản tin 01 Viện NC&ƯDTNCN

Cụ già 70 chữa hóc xương miễn phí ở Hà Nội

Người thầy lang đã tìm đến tận nhà, đề nghị bố mẹ cụ Lệ cho đi học phép thần chữa hóc xương và mấy chục năm qua, cụ đã chữa hóc xương cứu người với quan niệm tất cả đều xuất phát từ chữ "Tâm"
Cụ già 70 chữa hóc xương miễn phí ở HN, Tin tức trong ngày, chua hoc xuong, cu gia chua hoc xuong, than y, hoc xuong, chua benh, bao, tin tuc, tin hot, tin hay
Ở cái tuổi 85, thượng thọ xưa nay hiếm, mắt đã mờ, tóc đã bạc nhưng ở cụ Trần Thị Lệ (ở phường Phương Liên, quận Đống Đa, TP.Hà Nội) vẫn nhanh nhẹn và minh mẫn hiếm thấy. Khi trò chuyện với PV, cụ Lệ thể hiện nhiều phong thái, tình cảm khác nhau, làm người đối diện bất ngờ. Cụ chậm rãi, trầm ngâm, có lúc dừng ngắt quãng hồi tưởng lại những chặng đường đã qua trong cuộc đời với hơn 70 năm mang nghiệp chữa bệnh hóc xương cứu người.

Cách chữa hóc xương kì lạ
Đến làng Kim Liên (nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, TP. Hà Nội), chúng tôi dễ dàng tìm được đến nhà cụ Lệ. Vì người dân trong phường đã quá quen thuộc với hình ảnh cụ già với mái tóc bạc phơ, khuôn mặt hiền lành, nói giọng miền Trung với "bí quyết" chữa hóc xương kỳ tài, nức tiếng gần xa. Ngôi nhà cụ Lệ ở số 16A, ngay cuối con hẻm. Chúng tôi đến đúng ngày cụ nhiều khách. Người ta đứng xếp hàng để chờ tới lượt được chữa hóc xương chật cả phòng, hành lang. Tầm hơn 11h trưa, khi khách đã vãn, chúng tôi mới có dịp được trò chuyện, được nghe cụ hàn huyên về cuộc đời chìm nổi với nghề... chữa hóc xương.
Nói về cơ duyên đến với nghề chữa hóc xương, cụ Lệ cho biết: Khi tôi mới lên 6 tuổi, ăn thịt gà bị hóc xương. Mẹ tôi đã áp dụng biết bao bài mẹo dân gian, chữa nhưng chiếc xương quái ác vẫn trong cổ họng. Trong lúc nguy kịch, gia đình cụ được người quen mách có ông thầy lang nổi tiếng vang danh gần xa tên là Nguyễn Văn Cương, người dân tộc thiểu số ở vùng quê hẻo lánh thuộc huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh). Người này có kỳ tài chữa hóc xương bằng mẹo rất giỏi. Hai mẹ con bà khăn gói quả mướp, lặn lội đưa nhau đi tìm nhà thầy lang Cương. Tới nơi, không nói không rằng, thầy lang Cương chỉ thẳng ngón tay trước mặt cụ Lệ rồi gõ vào đầu 3 cái, xoay chiếc đèn dầu 3 vòng. Làm phép xong, ông lang đưa cho cụ 3 hạt muối bảo ngậm vào miệng rồi uống 3 hớp nước. Cụ Lệ làm theo chỉ dẫn của thầy lang Cương, còn miệng thầy lang Cương thì lẩm nhẩm câu thần chú gì đó không ai biết. 6 tiếng đồng hồ trôi qua, cái xương mắc kẹt trong cổ cụ Lệ tự dưng biến mất. Hai mẹ con cảm ơn thầy lang Cương rồi vui mừng ra về.
Cụ Lệ kể tiếp, chuyện hóc xương gà đáng ra đã mãi mãi bị lãng quên. Tuy nhiên, vào một ngày mùa hạ, gia đình bà nghe thấy tiếng gọi cổng. Mở cửa ra, họ ngạc nhiên khi thấy thầy lang Cương ngày nào tìm đến. Sau khi mời vào nhà, ông Cương đề nghị chọn cụ Lệ là hậu duệ để truyền nghề chữa hóc xương. Lúc đầu, gia đình không đồng ý vì cho rằng, cụ Lệ khi đó còn quá nhỏ để có thể theo nghề. Hơn nữa, ông Cương có 5 người con, tại sao không chọn ai đó để truyền nghề mà lại chọn người ngoài. Ông Cương hết lời thuyết phục bố mẹ cụ Lê. Bởi theo lời của người đàn ông này, chỉ có cô bé mới xứng đáng làm người nối nghề. “Ông ấy nói nghề này không chỉ là chữa hóc xương mà cần thiết phải có tâm - đức - tài. Thuyết phục mãi cuối cùng mẹ cũng đồng ý cho cụ Lệ theo học ông Cương chữa bệnh hóc xương”, cụ Lệ chia sẻ.
Nói chuyện với chúng tôi, cụ Lệ cho biết: "Mọi người nghĩ chữa hóc xương thật đơn giản nhưng phải có bí quyết đấy. Tôi học thầy Cương hơn 2 năm mới hết được bí quyết. Lúc thầy ra đi, vẫn đau đáu căn dặn tôi là làm nghề này nhất thiết phải đặt chữ “Tâm” lên hàng đầu”.
Đau đáu tìm truyền nhân
Theo lời cụ Lệ, khi bắt tay vào chữa bệnh, lúc nào cụ cũng nhớ lời dặn của thầy Cương là phải đặt chữ “Tâm” lên hàng đầu. Hàng ngày, căn phòng nhỏ của cụ hầu như lúc nào cũng đông người đến chữa bệnh, trò chuyện, cảm ơn. Cụ Lệ cho biết: “Chữa cho nhiều người nhưng chưa bao giờ tôi lấy của ai một đồng tiền nào cả. Tôi  tâm niệm "cứu người là phúc đẳng hà sa". Có lẽ, còn sống, còn khoẻ, tôi còn tiếp tục với nghề”. Cả đời làm nghề, cụ không thể nhớ hết tên, mặt người bệnh. Nhiều khách ở tận Lào Cai, Cao Bằng, miền Tây Nam Bộ cũng lăn lội tìm đến cụ, xin chữa bệnh. Cụ Lệ nói: "Khách đến chữa nhiều, nhưng chưa trường hợp nào tôi "bó tay" cả. Hóc xương cứ tưởng là đơn giản nhưng là tai nạn nguy hiểm và được xem là khó chữa trị nhất. Vì thế khi gặp phải tai nạn thì người bị bệnh phải đi chữa trị sớm càng tốt. Tôi còn nhớ, có trường hợp đưa đến nhà trong tình trạng họng đã sưng tấy vì hóc xương gà. Trước đó, họ đã chữa chạy một số nơi nhưng không khỏi. Sau khi được tôi chữa thì đến đêm xương gà cũng biến mất".
Có lẽ, trong hơn 70 năm chữa hóc xương miễn phí, trường hợp bệnh nhân mà cụ nhớ nhất khi vừa được truyền nghề. Năm đó, có một bệnh nhân cao tuổi ở Hà Tĩnh hóc phải xương trâu đã 6 ngày, tình trạng đã vô cùng nguy hiểm. Học nghề đã được 2 năm nhưng đây là lần đầu tiên "thực hành" nên cụ hết sức lo lắng. Nhưng được sự hướng dẫn của thầy Cương, cụ bình tĩnh làm theo các bước thầy đã dặn. Cuối cùng bệnh nhân cũng qua khỏi trong sự vui mừng và khâm phục của mọi người. Sau đó, để trả ơn, người nhà bệnh nhân biếu cụ tiền và thóc nhưng cụ từ chối. Kể lại ca chữa trị thành công đầu tiên ấy, giọng cụ Lệ run run, khóe mắt ướt nước, có vẻ xảm xúc vẫn đong đầy.
Tâm niệm làm việc nghĩa cứu người, do đó cụ Lệ có một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ nhận tiền của ai. Cụ cắt nghĩa, chữa bệnh này xuất phát từ cái tâm. Chính vì thế, đến nay cụ vẫn chưa tìm được truyền nhân nào thích hợp, hội tụ đầy đủ cả tâm và tài. Theo cụ Lệ, cụ có 5 người con đã lập gia thất, cuộc sống gia đình đề huề. Con cụ đều thành danh ở trong và ngoài nước nhưng không ai nối tiếp nghề, bởi cuộc sống cơm, áo, gạo, tiền bắt buộc phải mưu sinh, phải làm giàu kinh tế. Cụ Lệ cho biết, bây giờ tìm được người sống không tư lợi, chỉ chuyên tâm làm nghề rất khó, chẳng khác nào mò kim đáy bể. Đã có rất nhiều người đến xin làm đệ tử, muốn được học nghề từ cụ nhưng cụ không đồng ý. Bởi sau khi nói chuyện, cụ chưa thấy được cái tâm ở họ. “Sau gần cả cuộc đời tôi làm nghề mới nghiệm ra một điều, làm nghề thì dễ nhưng để trụ lại với nghề bằng cái tâm đức thì quá khó”, cụ Lệ bảo. Đến bây giờ, cụ vẫn đau đáu về một người truyền nhân khi cụ ra đi, mong muốn sẽ có người kế tiếp cụ chữa bệnh cứu người.
Chào “thần y” ra về, chúng tôi chỉ biết nắm bàn tay chúc cụ khỏe mạnh để tiếp tục đi làm phúc cho thiên hạ. Tuy nhiên, nhiều người lo rằng, ai cũng già và phải về với tổ tiên. Khi cụ Lệ khuất đi, ai sẽ là truyền nhân của bài thuốc chữa bệnh hóc xương này. Bởi vì, vào cái thời buổi này, ai cũng cần có tiền để phát triển cuộc sống của mình. Cụ Lệ vẫn băn khoăn không biết lúc nào mình mới tìm ra được người có đủ tâm - tài để truyền nghề.
Cụ Lệ cười móm mém bảo: "Cả đời tôi không thể nhớ là mình đã chữa cho bao nhiêu người qua khỏi tai nạn hóc xương. Tôi thực sự hài lòng vì chưa bao giờ nhận của ai bất cứ một đồng tiền nào. Chữa bệnh là cái đức lớn lao nhất mà tôi tích được trong cả cuộc đời mình".
Bí quyết chữa hóc xương
Bài thuốc chữa hóc xương của cụ Lệ rất đặc biệt. Cụ cho biết, nó đơn giản là một cái mẹo nhưng phải tuân thủ "quy tắc" chữa bệnh. Khi bệnh nhân đã ngồi vào ghế, không được hé miệng nói chuyện với cụ hoặc người xung quanh. Sau đó, cụ chỉ cần chỉ tay thẳng vào mặt người bệnh, cho bệnh nhân uống 3 hớp nước, ngậm 3 hạt muối rồi xoay chiếc đèn dầu 3 lần. Sau khi làm phép bất kể bệnh nhân mắc xương gà, xương cá, xương bò hay kim chỉ, râu tôm đều qua khỏi một cách rất nhẹ nhàng. "Đồ nghề" chữa bệnh của cụ Lệ đơn giản chỉ là một chiếc đèn dầu Hoa Kỳ cũ, một lọ muối và bình nước. Tuy nhiên, thật tài tài tình, tất cả những vật sắc nhọn trong cổ họng bệnh nhân đều "biến mất". Hơn 70 năm qua, tên tuổi cụ vang danh gần xa. Người ta tìm đến cụ nhiều, có người tôn sùng còn gọi cụ là "thần y”.

Theo Giáo dục Việt Nam
Bài đăng ở Bản tin 01 Viện NC&ƯDTNCN

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

KHÁNH THÀNH ĐỀN THỜ LÝ NHẬT QUANG

KHÁNH THÀNH ĐỀN THỜ LÝ NHẬT QUANG
MỘT TRUNG TÂM VĂN HÓA, TÂM LINH TẠI ANH SƠN NGHỆ AN

                                                                           PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Quyên
Lý Nhật Quang huý là Lý Hoảng là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, mẹ là Trinh Minh Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân (theo các nhà nghiên cứu là con của Lê Đại Hành và hoàng hậu Dương Vân Nga), hiệu là Bát lang hoàng tử. Như vậy, ông là em cùng mẹ với vua Lý Thái Tông. Lý Nhật Quang nổi tiếng thông minh, 8 tuổi biết làm thơ, 10 tuổi tìm hiểu kinh sử.  Ông được vua cha và hoàng tộc chăm lo dạy dỗ để sớm thành rường cột nước nhà. Nghệ An là một vùng biên ải phía Nam của nước Đại Việt, việc quản lý còn lỏng lẻo. Nhiều cuộc nổi dậy ở địa phương có tính chất phản loạn, gây sự phiền nhiễu cho nhân dân, triều đình phải nhiều phen dẹp loạn. Từ năm 1041, sau khi Lý Nhật Quang được cử làm Tri châu, tình hình xã hội ở Nghệ An dần dần ổn định, kỷ cương phép nước được lập lại. Ông đã cho làm sổ sách thống kê hộ khẩu, nhân đinh. Theo sử gia Phan Huy Chú: "Đời , việc kiểm soát hộ tịch rất là nghiêm ngặt. Dân đinh nào đến 18 tuổi thì biên vào sổ bìa vàng, gọi là Hoàng nam, đến 20 tuổi gọi là Đại Hoàng nam". Những biện pháp quản lý xã hội của Lý Nhật Quang cùng với sự độ lượng và tư tưởng thân dân của Ông dần dần đã cảm hoá và quy phục được tất cả mọi tầng lớp nhân dân, làm cho vùng đất vốn phức tạp đã trở nên bình yên, thuần hậu và thống nhất.
            Năm 1044, Lý Thái Tông cất quân đánh Chiêm Thành, nhờ có Trại Bà Hoà kiên cố và đầy đủ lương thực do Lý Nhật Quang tạo dựng, quân sĩ yên tâm chiến đấu. Lý Nhật Quang được vua phong từ tước Hầu lên tước Vương ”Uy Minh Vương Lý Nhật Quang.”
Lý Nhật Quang hết sức coi trọng việc phát triển kinh tế, khuyến khích, hướng dẫn nhân dân mở mang nghề nghiệp, khai thác mọi tiềm năng của vùng đất xứ Nghệ.
Thần tích đền Quả Sơn đã ghi rõ: "Ngài ở châu 19 năm, trừng trị kẻ gian, khen thưởng người lành, khai khẩn đất hoang, chiêu mộ lưu dân, bọn vô lại phải im hơi, người dân về với Ngài được yên nghiệp. Ngài thường qua lại vùng này, vùng khác, dạy nghề làm ruộng, trồng cây cối, nuôi gia súc, có nhiều chính sách lợi cho dân, làm cho nhân dân đoàn kết. Người dân đến kiện tụng thì lấy liêm, sỹ, lễ, nghĩa giảng dạy làm cho tự giác ngộ, ai nấy đều cảm hoá, không bàn đến chuyện kiện cáo nữa. Mọi người đều gọi Ngài là Triệu Công".
Câu đối tại đền Quả đã khái quát được công trạng của ông:
Hiển hách thần linh, hương khói miếu đền lưu vạn đại,
Lừng danh tông tộc, núi sông ghi nhớ đến nghìn năm.
Hiện vẫn còn nhiều giả thuyết về cái chết của Lý Nhật Quang. Thần phả đền Quả Sơn viết rằng Lý Nhật Quang hi sinh trong trận chiến với giặc, bị chém ngang cổ nhưng đầu không lìa, đến núi Quả thì ngựa quỵ xuống, ông qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1057. Theo truyền thuyết, khoảng năm 1057, miền biên giới do Ngài cai quản bị bọn phỉ Lão Qua (nước Lào) thường xuyên vượt biên sang cướp phá. Trong một lần đưa quân đi dẹp loạn, Lý Nhật Quang bị thương rất nặng, khi ông chạy qua địa phận xã Đại Điền (nay là xã Vĩnh Sơn, huyện Anh Sơn) ông đã để lại huyết tích. Sau này khi ông mất, người dân Vĩnh Sơn đã xây ngôi đền thờ để tưởng nhớ công ơn của ông. Theo thống kê, tại Nghệ An, Hà TĩnhThanh Hoá, có hơn 50 đền thờ Lý Nhật Quang, Trong đó ngôi đền chính nổi bật nhất là đền Quả tại huyện Đô Lương
Trải qua các cuộc chiến tranh đền thờ Ngài Lý Nhật Quang tại Vĩnh Sơn, Anh Sơn Nghệ An bị xuống cấp hư hỏng và bị phá bỏ. Tại Vĩnh Sơn, Anh Sơn ngoài đền thờ Ngài Lý Nhật Quang, một số chùa chiền miếu mạo cũng bị phá hủy. Trong xã không còn một địa điểm nào cho bà con thờ cúng và hoạt động tâm linh. Có nhiều thông tin về những hậu quả do phá đình chùa miếu mạo tại địa phương. Anh Nguyễn Sỹ Ngọc, một người con của Vĩnh Sơn, đau đáu một tâm nguyện: khôi phục lại đền thờ Lý Nhật Quang. Anh còn có ý định xây dựng một cơ sở y tế để mời thầy giỏi về chữa bệnh cho bà con. Tục truyền tại xế cửa đền Lý Nhật Quang là mộ của một thày thuốc tài giỏi. Anh Ngọc đã phát tâm xây lại đền, đóng góp phần lớn kinh phí xây dựng trong khi anh chưa có ngôi nhà riêng cho chính mình. Anh vừa làm công tác thuyết phục bà con và các cấp chính quyền cho phép xây dựng, vừa chuẩn bị kinh phí và các thủ tục tâm linh. Nhà phong thủy - ngoại cảm Doãn Phú, Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nghi và Nhà phong thủy Dương Thị Liễu (thuộc trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người trước đây, nay đều là cán bộ của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người) đã hỗ trợ khảo sát về phong thủy và tâm linh trước khi tiến hành xây dựng. Trung tâm Nghiên cứu TNCN trước đây và Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người đã tổ chức đưa các nhà ngoại cảm và phong thủy vào khảo sát, chọn hướng và kích thước xây đền. Các kết quả khảo sát và chọn hướng trùng hợp nhau chứng tỏ một sự kết hợp thành công giữa phong thủy và tâm linh. Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nghi đã công đức toàn bộ các pho tượng của ngôi đền, theo dõi sát sao từng bước xây dựng đền và làm các nghi thức tâm linh trong suốt quá trình xây dựng.
Năm 2009, công trình đền thờ Lý Nhật Quang được khởi công xây dựng, với kinh phí dự tính hơn 5 tỷ đồng (tiền chi thực tế cho đến nay gần 10 tỉ đông), bao gồm các hạng mục chính: thượng điện, hậu cung, miếu thờ thần y và nhà tiếp khách. Khuôn viên đền khá rộng rãi và những hàng cây xanh trồng xen kẽ. Có nhiều chuyện linh ứng xảy ra hôm làm lễ khởi công và trong quá trình xây đền. Lễ khởi công xây dựng kết thúc, đoàn đại biểu về trụ sở Ủy ban xã đã thấy một con bướm rất đẹp, to cỡ hai bàn tay đậu trên cửa phòng Bí thư Đảng ủy. Khi Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nghi nói thì đôi cánh bướm như vẫy mừng. Chị Nghi đưa bướm vào trong phòng rồi để đậu trên một hộp giấy ở nóc tủ tài liệu. bướm đã ở đó rất lâu. Hôm chuẩn bị Lễ khánh thành, một con bướm to đẹp như thế đậu trên ngực đồng chí chủ tịch xã hơn hai tiếng đồng hồ trước sự chứng kiến của nhiều người. Đoàn cán bộ Viện về dự Lễ khánh thành đền đã được chính đồng chí Chủ tịch xã kể về hiện tượng rất lạ này. Đền xây sắp xong, một trận lũ của sông Lam làm sạt một khoảng đất lớn trước đền. Người dân lo lắng, nếu tiếp tục sạt lở thì ngôi đền có nguy cơ bị cuốn đi. Nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nghi thông báo từ xa là ngôi đền sẽ an toàn. Đúng như vậy, khoảng đất bị sạt trôi đi không bị lật úp, mà như trôi tịnh tiến ra xa nhưng giữ song song với bờ, cây cối vẫn đứng thẳng. Mấy tiếng sau đất lại tràn vào chỗ bị sạt, nối với khoảng đất bị trôi và làm cho sân đền rộng ra. (Thông tin này đã được nhân dân và chính quyền địa phương xác nhận và còn dấu tích cho đến bây giờ, khi Đoàn của Viện về dự lễ khánh thành ngôi đền).
 Có thể các sự kiện trên chỉ là ngẫu nhiên song rất nhiều người tin rằng đó là sự linh ứng của Trời Đất và của Ngài lý Nhật Quang.
          Lễ khánh thành ngôi đền trở thành ngày hội lớn của nhân dân Vĩnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An. Từ đây người dân ở Vĩnh Sơn có một địa chỉ tâm linh để thờ cúng và làm chỗ dựa tinh thần. 

TIỀN NHÂN GIỤC GIÃ QUA NHỮNG GIẤC MƠ VÀ NHỮNG BÀI THƠ


         Từ đầu năm 2012 tôi có những giấc mơ rất lạ. Có người xưng danh Vua Lý nhờ giúp để mộ cháu gái Ngài là công chúa Lý kiều Oanh thoát cảnh bị sú uế, dẫm đạp. Ngài còn dặn khi tìm thấy mộ thì tôn tạo lại, không mang đi nơi khác. Tôi hoang mang và chưa tin, giấc mơ cứ lặp đi lặp lại và trong một lần giao tiếp tôi hỏi Ngài: “Đây là thực  hay con hoang tưởng?”. Ngài trả lời là tôi không hoang tưởng, Ngài thực sự muốn nhờ tôi. Ngài cho tôi địa chỉ nơi có ngôi mộ và tên đầu của chủ nhà là N. Tôi gọi điện nhờ anh Hùng ở Đồng Hới Quảng Bình xem có địa chỉ như tôi được báo. Câu trả lời là có. Em gái tôi là Hoàng Thị Thuy ở Lào Cai cũng nhận được giấc mơ như vậy. Thường thì nếu cả hai chị em cùng nằm mơ thì tôi chiêm nghiệm việc được báo là hoàn toàn đúng.
     Tôi nói chuyện với luật sư Bích Lan và hai chị em vào Đồng Hới Quảng Bình. Nhờ linh cảm tôi tìm được nhà anh Nam. Chúng tôi phải nói dối là tìm mộ tổ tiên để giữ bí mật. Anh Nam kể là khi đào hầm trú ẩn đã gặp những hàng gạch xây sợ nên lấp lại. Tôi báo cáo với Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người và được các bác các cô khích lệ động viên. Một đoàn cán bộ Trung tâm vào làm việc với Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và các đơn vị quản lý tại địa phương. Lãnh đạo địa phương kết luận trong buổi làm việc là sẽ làm thủ tục khai quật sớm.
     Thế rồi giấc mơ cứ nối tiếp giấc mơ. Rổi liên tiếp có những bài thơ mà tôi được lệnh chép lại. Thơ của Hồ Đức Cưởng, phò mã, chồng của công chúa, thơ của hầu cận ngài Hồ Đức Cưởng, thơ của công chúa Lý kiều Oanh. Im ắng vẫn hoàn im ắng từ các cơ quan chức năng. Chúng tôi cảm thấy như ngồi trên lửa, vừa thương Bà Công chúa xinh đẹp tài ba, giúp chồng việc quân lương khi chiến tranh mà mộ phần đang nằm dưới lòng đất có chất thải chảy qua vừa cảm động trước mối tình lớn của Công chúa và Phò mã. Tôi được tâm linh mách bảo và đã chỉ cho chủ nhà đào được một viên đá có khắc dòng chữ Lý Kiều Oanh công chúa. Tâm linh cũng mách bảo để tôi cùng luật sư Lan tìm được về chùa Kiến Sơ và dấu vết của công chúa Lý(Hồ) Ngọc Kiều, con gái duy nhất của công chúa Lý Kiều Oanh và phò mã Hồ Đức Cưởng. Tâm linh cũng cho tôi biết mối tình của vua Lý Thái Tông với ngự nữ(sau được phong làm Hoàng Hậu, hiệu là Thiên Cảm), mẹ công chúa Kiều Oanh.
     Rồi các nhà khoa học vào cuộc, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người đã tổ chức đoàn cán bộ gồm đại diện lãnh đạo Viên, các nhà Hán Nôm học, các nhà sử học, khảo cổ học, vào khảo sát thực địa. Tôi vô cùng vui mừng có nhiều ý kiến của các nhà khoa học đã làm sáng tỏ những dòng chữ trên tường bao quanh, chứng tỏ người nằm dưới mộ là người có công với nước. Các nhà khoa học cũng đã lần theo chính sử mà kết nối nhiều sự kiện.
     Trong mấy năm qua tôi nhận được nhiều thông tin và nhiều đề nghị từ cổ nhân. Dường như nhiều việc khác tôi phải gác lại để thực hiện tâm nguyện của tổ tiên.
     Tôi rất mong Viện và các cơ quan khoa học khác tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ. Các việc mà chúng ta được giao rất lớn, phải có nhiều cơ quan cùng tham gia thì mới có khả năng làm được.
     Tôi xin hứa với Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người sẽ làm tốt các việc
 được Viện và Bề trên giao phó.
     Xin chân thành cảm ơn các quý vị đã lắng nghe.
Hoàng Thị Thiêm.
(Bài đăng trên Bản tin số 01 của Viện NC & UD TNCN)

Hoàng Thị Thiêm

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

VĂN GIẪY

Bài đã đăng trong Bản tin số 01 Viện NC & ƯD TNCN

Cô Phạm Thị Phú người chữa bệnh không dùng thuốc
                                  VĂN GIÃY
Ông Nguyễn Văn Bính, 61 tuổi, ở thôn Đại Cách, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội, số ĐT 04.3751 0920. Ông Bính bị Pac kin sơn đã 12 năm, 3 năm cuối, ông giãy liên tục, các bác sỹ kết luận ông bị "loạn" Pac kin sơn không chữa được. Bó tay!
Hàng ngày ông phải dùng tới 14 viên Mazopan - thuốc của Úc, liều thường là 3 viên/ngày.
Gia đình đã đưa đi chữa ở BV Bạch Mai, Viện 198 và nhiều thày lang mà bệnh không giảm bớt.
Trước khi đến cô Phú, 3 tuần liền, hàng ngày ông Bính giãy 24/24. Đau đớn và nguy hiểm vô cùng, vợ con phải trói vào võng và khóa lại. Nhiều lúc, ông kêu thấy ma, vừa giãy vừa chạy để vồ ma!
Đến cô Phạm Thị Phú, (một cộng tác viên của Viện trong đề tài nghiên cứu chữa bệnh bằng tác động sinh học) ở Sông Công, chỉ sau 7 ngày tác động, bệnh đã giảm 80%, từ chỗ không đi lại được, ông Bính đã có thể đèo vợ bằng xe máy từ Hà Nội lên Sông Công, Thái Nguyên và ngược lại
Tôi tên Văn Bính hiệu là Văn Giãy,
Tên hiệu này do cô Phú đặt cho,
Bị Parkinson tôi giãy dụa bốn mùa,
Hùng dũng nhất khi vồ ma - nhưng trượt!
Mười một năm Pac kin sơn,
Ba năm giãy dụa may còn sống đây,
Người ta 3 viên thuốc ngày,
Tôi uống 14 vẫn giãy ngày giãy đêm.
Trước khi lên cửa Cậu, cửa Cò,
Vợ con tôi vừa sợ vừa lo,
Ba tuần liền tôi tay co chân giãy;
Ba bảy hai mươi mốt ngày,
Giãy đêm giãy ngày, hăm bốn tiếng thông,
Vợ mà phải trói chặt chồng,
Con phải khóa bố - buồn không hỡi người?
Bác sỹ Bạch Mai bảo tôi:
"Pac kin sơn loạn mất rồi - bó tay!
Nhờ người mách tôi lên đây,
Chỉ sau bảy ngày cô Phú giúp cho,
Giãy tôi đêm đã ngủ khò,
Buồn tình mới giãy: Giãy cho vui nhà,
Ba tháng nhanh chóng trôi qua,
Giãy được về nhà nằm võng yên vui,
Mười phần hết được tám rồi,
Ai biết cuộc đời Giãy lại nở hoa! 
Vợ tôi cười mắt lệ nhòa,
Cô không nhận quà cũng chẳng lấy công,
Nghèo như mấy bác nhà nông,
Giàu như mấy bác tiêu không hết tiền,
Từ ung thư đến bệnh điên,
Xin chớ đưa tiền làm mất lòng cô,
Năng lượng tình thương mẹ Cò,
Cho tôi hết giãy, hết co, hết buồn.
                                               Xuân Thi

Lời ban Biên tập: Đây là một bài thơ trích trong cuốn"Có một người như thế", chùm thơ ghi lại những kỷ niệm của người bệnh đã được cô Phạm Thị Phú truyền năng lượng thành công. Bản thân tác giả Xuân Thi là Tiến sỹ Vật lý, ở TP Hồ Chí Minh. Ông cũng chính là một bệnh nhân với những bệnh mà chữa Đông Tây không khỏi, sau nhờ cô Phú, ông đã khỏi bệnh. Trong những lần từ TP HCM ra chữa bệnh, được chứng kiến và nghe tâm sự của người bệnh, ông đã chuyển tải những lời tâm sự ấy thành những vần thơ.