Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

Lá sen "cõng người" và chuyện Rùa Hạc giữa chốn thiền môn

Một lần phạm giới tu hành, Hạc đã bị sư chủ cho "hoàn tục". Hạc bay đi, Rùa buồn ủ rũ, Rùa đã mất sau ba ngày tuyệt thực. Tình bạn vỏn vẹn 3 năm giữa Hạc và Rùa vẫn được người đời truyền tai nhau khi bước chân vào chùa Phước Kiển Tự (Hòa Tân - Châu Thành - Đồng Tháp). Ngôi chùa ngoài câu chuyện bi thương giữa hai linh vật, thì còn nổi tiếng vì độc hữu loài sen vua "cõng người" chưa từng xuất hiện ở bất cứ đâu trên đất Việt.

 
 Ao sen vuông trước cng chùa


Lá sen lúc đang trưởng thành trông ging hình trái tim



Nhng chiếc lá sen này tng “cõng” rt nhiu người

Sen "cõng người" trong Phước Kin T
T nhiu năm nay, ngôi chùa nh nm trên vùng Nha Mân, được biết đến là cái nôi sn sinh con gái đp ni tiếng phương Nam luôn tp np khách thp phương. H đến đ tn mt ngm loài hoa sen khng l có mt không hai trên đt Vit Nam. Và, đ tri nghim cm giác ngi trên lá sen dp dnh trên mt nước, tha h ngm đt tri, cây c và nhng loài cá hin hòa dưới lòng h.
Vì sao lá sen có kh năng chu đng trng lượng ca mt con người? Vì sao lá sen khng l y li ch mc trong ao mt ngôi chùa nh tn vùng Đng Tháp? Câu hi đó, hin nay đang là đ tài nghiên cu hp dn và hóc búa ca gii khoa hc trong và ngoài nước.
T ch Nha Mân, chúng tôi d dàng hi thăm v nơi đang gi huyn tích lá sen khng l, người dân vui cười ch dn tường tn và sn sàng xác nhn rng, lá sen "cõng người" là s tht. Hu hết bà con quanh vùng đu ít nhiu được đng hay ngi chm ch trên là sen.
Ch nhân ca ngôi chùa nhiu d bit y, sư thy tr trì đi th 4 Thích Hu T (75 tui) là người am tường s vic nht. Đã nhiu năm nay, ông không còn l lm gì vi nhng câu hi và s ngc nhiên ca bàn dân thiên h đn đoán v loài sen khng l trong ao chùa. Theo sư thy, thì đó ch là s ngu nhiên, mt đt biến d th ca loài sen.
Đó là mt bui sáng trong lành ngày 8/1/1992 (âm lch), như bao bui sáng khác làng quê Đng Tháp. Sư thy xn tay áo xung h nh ngó sen ra ch bán như thường l, ra ti gia h, sư thy phát hin mt bông sen n to khác thường, li có gai bao bc xung quanh. Hoa sen mang màu đ thm phía ngoài, trong li có màu trng tuyết, nhiu gai. Sư thy lng l quan sát, thì phát hin ra đây không phi là bông hoa bình thường, vì hoa đi màu liên tc theo thi gian trong ngày.
Bui sáng, sen n màu trng ngà, đến tm 9 gi thì chuyn màu hng ri cúp li. 3 gi chiu sen n ra màu đ thm ri chuyn dn sang màu tím, khi hoàng hôn va khut núi, sen chuyn hn sang màu hng và cúp li. Vòng đi ca sen tn ti trong vòng ba ngày, ngn hơn sen bình thường.
Vy mi có câu chuyn, có hai người khách vào chùa ngm sen. Mt ông ngm bui sáng thy hoa màu trng, ông ngm bui chiu thy hoa màu hng. Hai ông này v k li cho bà con thì mi người mt kiu, h c cãi nhau, tranh lun rt gay gt. H kéo đến hi sư thy cho rõ ngn ngành và phân đúng sai. Sư Thích Hu T mm cười: "C hai ông đu đúng, sen trong chùa thay đi màu theo thi gian trong ngày". T đó, tin đn v loài sen l nhanh chóng lan đi, pht t và khách thp phương tìm v chùa ngày mt đông.

 
Mt pht t ngi trên là sen nim Pht

Ngoài hoa sen l, thì cùng thi đim đó, lá sen bt đu phát trin và to ngoài sc tưởng tượng. Lá sen hình ging mt cái nia, b rng chng 2m c xếp lp mc kín bưng ao sen, b mt lá sen nhn nhi chia thành nhng ô vuông nh, phía dưới có nhiu gai. Đc bit vào mùa nước ni khong tháng 9 tháng 10 (âm lch), sen no nước nên phát trin rt nhanh và mnh. Lá sen có th ti 3m. Người dân thường gi là sen vua hay sen nong nia.
Ngày đó, trong chùa có nuôi mt chú Hc rt thông minh và có th hiu được tiếng người. Sư Thích Hu T lin bo chú Hc bay xung lá sen đng. Lúc đu, Hc đng lên do tiếp xúc vi móng chân sc nhn làm lá b rách, nước thm vào, xong sư thy ly chiếc mâm đt lên trên b mt ca lá sen, Hc đng lên thì không rách lá na. Thy l, sư thy đng th lên và tht ngc nhiên, lá sen tr vng sc nng có trng lượng hơn 50kg. Người dân ùn ùn kéo đến, đua nhau kim nghim s tht là sen "cõng người", tt c đu sng st khi đng trên lá sen khng l.
Thy Hu T gii thích: "Tt c mi người khi đến chùa thì vic đu tiên là h phi ngi trên lá sen cho bng được. Bn có th ngi, có th đng tùy thích mà không h có cm giác chao đo hay bng bnh. Lá sen gi vng thăng bng, chc chn như bc bê tông vy. Theo tôi đây không có gì huyn bí c. Là do lá sen rt to, t thân nó đã to cân bng và gi lc khi tiếp xúc vi mt nước. Nó ging mt chiếc thuyn đc mc vy. Người nào có trng lượng trên 60kg thì lá cũng ch dp dnh mt lúc thôi, không sao c".
Loài sen l không mc bt c đâu ngoài Phước Kin T
Hòa thượng Thích Hu T cho biết: "Đây là loài sen có ngun gc t Amazon, vùng Nam M. S xut hin ca nó ti chùa Phước Kin T cho đến thi đim này, vn chưa ai biết". Phước Kin T được xây dng vào năm 1847 thi vua Thiu Tr thuc dòng h Đoàn. Tri qua bao biến c thăng trm, t ngày thy Hu T theo chú vào tu chùa vn chưa có gì đi khác.
Ngày đu, thy trng sen Bá Bin (sen trăm cánh), tri qua binh biến, chiến tranh, lũ lt, sen Bá Bin tuyt chng. Vi nim yêu thích loài sen, h đi đâu thy có hoa sen, hoa súng l là ông li xin v trng trong ao chùa. Có thi đim, trong ao quy t hàng trăm loài sen, súng. Chúng đua nhau n hoa các loi, to nên v đp lp lánh, rc r đ mùi hương sc. Năm 16 tui, khi người chú ca ông viên tch, thì ông chính thc làm ch trì Phước Kin T cho đến bây gi.
Thi chiến tranh, bom rơi đn lc, Phước Kin T cũng chu chung s phn vi đng bào Nam b, ao sen trăm hoa đua n b hai qu B52 xi tung, cánh sen tan tác, rũ rượi khét lt mùi thuc súng. Ao sen thay bng h bom sâu hom, tù đng nước đen như mc. Sau ngày gii phóng, thy Hu T tìm v, phc dng li chùa cũ và ci to h bom trng các loi sen, súng.
Cuc đi tu hành ca thy Hu T chưa bao gi ông thy loài sen kỳ l như vy. Bn thân ông không h biết xut x ca loài sen y, ông c công tìm hiu thì cũng ch biết ngun gc ca loài sen này có xut x t Nam M. Đng bên h sen, thy tri lòng: "Có c khách nước ngoài tìm v đây, h c trm tr t ra vô cùng ngc nhiên. Cũng có mt vài đoàn nhà khoa hc, nhà nghiên cu sinh vt đến đây ly mu nước, mu sen v nghiên cu nhưng chưa thy kết lun gì c.

Thy Hu T.
Sen l trong Phước Kin T vn không ngng sinh sôi ny n, nhưng l thay loài sen này ch sng được ao ca chùa. Nhiu người đến xin ging v trng nhưng đu tht bi, sen không sng ni bt c nơi ào, vùng nào".
Mi lương duyên đnh mnh ca Rùa và Hc gia ao sen

 
Đôi hc – rùa làm bn vi tr trì Thích Hu T



Xác ca chú rùa thông minh được gi li

Xung quanh câu chuyn v loài sen khng l, người dân nơi đây vn k cho nhau v tình bn gia Rùa và Hc trong Phước Kin T. Đây không phi câu chuyn c tích, mà đây là câu chuyn có tht mi xy ra trong chùa, gia ao sen.
Hc và Rùa là hai con vt được thy Thích Hu T mang v nuôi trong chùa nhiu năm tri. Trong đó, Rùa đến trước và sng lâu năm hơn Hc. Rùa theo ch nhân ca nó t thi chiến tranh, mt thi gian chy lon, thy Thin T b tht lc mt chú rùa. Sau khi tr v, thy ct công đi tìm nhưng mãi không thy.
Mt hôm, thy đến nhà người dân có vic, bng thy nghe tiếng dây xích c vào nhau long xong, thy nhìn xung thì hóa ra chú Rùa ngày n ca mình. Người ch yêu cu thy chuc li Rùa vi giá 1.500 đng. Thi trước gii phóng, đó là s tin không nh. Rùa sng hin hòa bên ngôi chùa nh cùng người thy ngày ngày tng kinh nim Pht. Người dân gi Rùa là "ông Quy".
Năm 1999, khi đang ra ch, thy Hu T thy con Hc b người th săn trói tht c đem rao bán. Nhìn thương quá, thy b tin mua chú Hc ri ci trói và phóng thích Hc v rng. Nhưng Hc không bay, nó li thi theo chân thy v tn chùa. Vy là t đó, thy Hu T có hai con vt làm bn là Rùa và Hc.
T ngày có Hc, Rùa nhanh nhn hn lên, h thy đi đâu, làm gì đu có hai con vt theo cùng. Hơn 3 năm ngày Hc v chùa, thì nó phm gii cm ca nhà Pht. Bui sáng hôm đó, Hc đng hít khí tri trên lá sen, bng nó thy con cá lin thò m xung ra và nut sng chú cá. Sư thy trông thy cnh Hc phm gii, ông lng l quay vào đc hết bài kinh. Ri ông "nói" vi Hc hãy bay đi. đây, không chp nhn vic làm đó ca Hc. Hc bay vòng vo my lượt quanh chùa, nó đu trên ngn cây b đ kêu lên thm thiết mt hi mi ct cánh bay v hướng Nam.
Rùa ngay sau đó không còn hăng hái đi theo sư thy ra vườn, hay tng kinh hàng gi na. Nó nm thu mình trong mt góc, không ăn không ung ba ngày thì chết. Sư thy Hu T cm thương Rùa và Hc, lp bàn th chúng ngay trong chùa và ngày ngày tng kinh cho chúng siêu thoát. Trên tm bia khc tưởng nim Rùa, Hc, thy Hu T khc "1948 – 29/7/2002''.


Lá sen "cõng người", chuyn tình Rùa Hc là nhng câu chuyn có tht trong Phước Kin T. Trong cõi nhân gian này, không thiếu nhng s kin ly kỳ khó lý gii, và nơi này nơi kia, vào thi gian này thi gian n, biến đng ca cuc sng luôn cha đng nhng bí n trông ch các nhà khoa hc gii mã.
Mt hin tượng l, mt câu chuyn l, đ thy rng, cuc sng này có rt nhiu điu con người chưa khám phá hết.

Câu chuyện về chàng thanh niên Pháp bỏ nhà sang Việt Nam đi tu

Tốt nghiệp đại học, đang làm giám đốc điều hành cho một công ty chuyên về máy tính với tiền lương lên đến vài trăm ngàn đô la một năm, thế nhưng, James Christopher, một thanh niên Pháp vẫn quyết định bỏ việc sang Việt Nam đi tu.


* Quyết học tiếng Việt để… đi tu

Quy định đối với các chư tăng đang tu hành ở Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt khá nghiêm ngặt, truyền hình và internet hoàn toàn bị cấm tuyệt. Toàn bộ khu thiền viện hơn một chục ha với trên 150 chư tăng chỉ có duy nhất một chiếc điện thoại để bàn dùng làm đầu mối liên lạc với bên ngoài.

Phải nhiều lần gọi điện xin phép, cuối cùng chúng tôi mới được thượng tọa Thích Thông Phương - trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt cho phép tiếp xúc với chàng thanh niên nói trên.

Tục danh của anh là James Christopher, nhà ở thủ đô Paris, Pháp. Thế nhưng, đã từ lâu rồi, kể từ ngày đặt chân đến Thiền viện Trúc Lâm cách đây 4 năm, anh dường như đã quên mất “tên cúng cơm” của mình.

Với một khả năng tiếng Việt khá tốt, anh bảo bây giờ anh đã là một sa-di, pháp danh là Thích Trúc Thái Hội và đề nghị chúng tôi hãy xưng hô bằng cái tên Việt Nam ấy.

Nói về căn duyên dẫn đến việc xuất gia, sư Thích Trúc Thái Hội cho biết, mặc dù sống ở Phương Tây, nơi có đa số người dân theo đạo Thiên chúa giáo song ngay từ nhỏ Thái Hội lại có tư tưởng hướng về Phật giáo. Và sự bí ẩn của một tôn giáo đến từ Phương Đông cứ ngày một lớn dần trong tâm tưởng của Thái Hội. Để giải tỏa “cơn khát” thông tin về Phật giáo, sau giờ học anh lên mạng tìm hiểu và trong một lần tình cờ Thái Hội biết đến thiền phái Trúc Lâm. Cũng từ đó ý nghĩ phải tìm về nơi phát xuất của Thiền phái này cứ cuốn hút Thái Hội, tuy nhiên anh vẫn chưa thể thực hiện ngay tức thì. Một phần vì điều kiện kinh tế không cho phép, một phần là do gia đình phản đối bởi anh là con trai duy nhất trong gia đình.

Sau nhiều năm gác lại dự định để học tập và làm việc, đến năm 2007, Thái Hội quyết định thực hiện ước mơ của mình, khi này anh đã là giám đốc điều hành của một công ty máy tính ở Pháp với tiền lương trên 100 ngàn đô la/năm.

Để thực hiện ước mơ này, sau giờ làm việc Thái Hội âm thầm đến một trung tâm đào tạo ngoại ngữ để học tiếng Việt. Thấy anh học một ngoại ngữ tương đối lạ, nhiều người bạn tra hỏi thì anh nửa thật nửa đùa : “Tớ học để qua Việt Nam đi…tu”. Nghe xong, mọi người cười xòa bởi tính anh hay bông đùa, thật giả lẫn lộn nên chẳng ai tin!

* “Tu ở Việt Nam bao giờ chết mới thôi”

Ngày tiễn Thái Hội ra sân bay để đến một vùng đất xa lạ mà anh chưa một lần đặt chân đến, người mẹ khóc như mưa. Để trấn an, Thái Hội hứa chỉ qua Việt Nam tu tập một thời gian rồi về!

Vừa đặt chân đến sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Thái Hội lập tức hỏi thăm đường về Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Thấy một người nước ngoài với dáng người vạm vỡ gần 100kg, râu tóc xồm xoàm nên sư thầy cũng ngán ngại. Tuy nhiên, với quan điểm sẵn sàng thu nạp bất kỳ ai có tâm hướng Phật, cộng với việc Thái Hội giỏi tiếng Việt nên cuối cùng sư thầy đã bị thuyết phục và chấp nhận cho anh tham gia đạo tràng.

Một ngày cuối năm 2012, tức gần hai năm sau ngày trở thành Phật tử của đạo tràng Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, Thái Hội đã xin phép thầy cho mình được xuống tóc quy y, trở thành một thầy tu thật sự. Sau nhiều ngày thuyết giảng về những quy định tương đối ngặt nghèo đối với chúng tăng mà vẫn không nhận được sự thay đổi ý định từ Thái Hội, cuối cùng thượng tọa Thích Thông Phương đã trực tiếp ra tay quy y, thu nạp Thái Hội làm môn đồ.



Nhớ lại những ngày mới sang Việt Nam gia nhập đạo tràng, sư Thích Trúc Thái Hội chia sẻ: “Lúc ở bên Pháp, là giám đốc nên sư ngủ dậy rất muộn. Thế nhưng khi qua đây tham gia đạo tràng mình buộc phải theo quy định của nhà chùa phải thức dậy từ lúc 3 giờ sáng để tụng kinh và sau đó là thiền nên cũng hơi mệt mỏi. Tuy nhiên, do quyết tâm trong mình vào thời điểm đó rất lớn nên cuối cùng mình đã vượt qua. Lâu dần thành quen và bây giờ thì với sư chuyện ngày tụng kinh 3 lần, thiền 6-7 tiếng đồng hồ không còn là việc khó nữa”.

Ngoài việc thay đổi giờ giấc, việc chuyển từ chế độ ăn mặn sang ăn chay đối với sư Thái Hội cũng là một công việc vô cùng khó khăn. “Từ nhỏ mình đã quen ăn bánh mỳ, bơ… nhưng khi qua đây chỉ được ăn cơm, rau và đậu hủ nên mình bị kiệt sức một thời gian. Chỉ trong vòng 1 tháng, mình đã giảm từ 90kg xuống còn 70kg. Ban đầu cũng mệt nhưng giờ thì sư cảm thấy vóc dáng này là chuẩn mà mình cảm thấy khỏe hơn lúc trước…”, sư Thái Hội cho biết thêm.

Khi nói về gia đình mình bên Pháp, sư Thái Hội cho biết từ ngày qua Việt Nam đến nay, sư đã được sư thầy cho về thăm nhà 4 lần. Lần về mới nhất cách đây 4 tháng, thấy mẹ vẫn khỏe sư vui lắm. Sư Thái Hội bảo, cũng muốn về thăm mẹ thường xuyên hơn nhưng vé máy bay từ Việt Nam về Pháp đắt quá, sư không đủ tiền!

Khi được hỏi đi tu thì lấy đâu ra nhiều tiền để về thăm quê, sư Thái Hội cho biết đó là trích ra từ phần lãi có được từ số tiền dành dụm khi còn đi làm, phần còn lại dành cho mẹ dưỡng già.


Trước khi chia tay với chúng tôi, sư Thích Trúc Thái Hội cho biết từ lâu đã xem Việt Nam là quê hương thứ hai của mình và “sẽ tu ở đây cho đến khi nào chết mới thôi”. Đồng thời, sư cũng không quên nhờ chúng tôi cho xin mấy tấm ảnh gửi về cho mẹ, bởi theo quan niệm của vị sa-di này, hiếu kính cha mẹ cũng là một trong những bổn phận của người tu sĩ chân chính. Và đó cũng chính là mong muốn của sư khi chia tay nước Pháp để đến Thiền viện Trúc Lâm tu hành.

Tôn giáo nào tốt hơn?

     “Đây là một mẫu đối thoại ngắn giữa Thần học gia người Brazil, Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma
     Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và tự do” có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài vừa tinh nghịch vừa tò mò:
     “Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất?”
Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây tạng” hoặc “Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki-tô giáo nhiều”.
     Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi…
Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh.
     Ngài trả lời:
     “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn”.
     Để giấu sự bối rối của tôi trước 1 câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi:
     “Cái gì làm tôi tốt hơn?”
“Tất cả cái gì làm anh Biết thương cảm hơn Biết theo lẽ phải hơn Biết từ bỏ hơn Dịu dàng hơn Nhân hậu hơn Có trách nhiệm hơn Có đạo đức hơn”.
“Tôn giáo nào biến anh thành như vậy Là tôn giáo tốt nhất”.
    
     Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác:
     “Anh bạn tôi ơi! Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh
Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế giới.
Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý.
Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người.
Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành, Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão.
Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy.
Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho người khác. Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.”
     Cuối cùng ngài nói:
“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,
Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,
Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,
Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,
Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,
Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh.
… và …
"Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự thật."

ĐẠO PHẬT hiện đại thế nào trước mắt tây phương

Matthieu Ricard & Dalai Lama

Con người Tây phương khám phá ra rằng cách đặt vấn đề của đạo Phật đáp ứng nhu cầu của thời đại mới. Tây phương đang chối từ Thượng Đế thì đạo Phật giải thích không có Thượng Đế. Tây phương phải nhờ Darwin để cắt nghĩa rằng vũ trụ không phải do một Đấng nào sáng tạo ra cả trong bảy ngày thì đạo Phật đã nói cách đây hơn 2500 năm rằng thời gian là vô thủy vô chung, vũ trụ là vô cùng vô tận. Tây phương ngay ngáy lo sợ về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế thì Phật giáo nói: không có ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi. Tây phương trăn trở về những vấn đề siêu hình thì Phật giao kể chuyện mũi tên: khi anh bị mũi tên độc bắn vào thân thì anh phải rút nó ra ngay hay anh ca vọng cổ hỏi mũi tên do ai bắn, lý lịch thế nào, hộ khẩu ở đâu. Rút mũi tên ra: đó là nhu cầu giải phóng con người ở Tây phương và họ thấy nơi Phật giáo một đáp số hợp với lý tính, đặt nặng trên kinh nghiệm, trên thực hành, và kiểm chứng được bằng kết quả bản thân, ở ngay đời này, chứ không phải đợi đến khi lên thiên đường, xuống địa ngục.
Hợp với lý tính: người Tây phương ngưỡng mộ nét đặc biệt đó của Phật giáo, làm Phật giáo khác với các tôn giáo khác.

Phật giáo từ chối lòng tin nếu không đặt cơ sở trên trí tuệ.

Bởi vậy, trong Phật giáo không có tín điều. Tây phương ngưỡng mộ kinh Kâlâma khi Phật dạy: Đừng vội tin một điều gì dù điều đó được ghi trong kinh điển hay sách vở. Hãy quan sát, suy tư, thể nghiệm, thực chứng rồi mới tinTinh thần đó xuyên suốt kinh kệ Phật giáo. Người trí thức Tây phương thấy tinh thần đó hợp với khoa học, hợp với đầu óc phê phán. “Phật giáo là tôn giáo duy nhất thích ứng với khoa học hiện đại”, Einstein đã phát biểu như vậy.

Tại sao Phật giáo hợp với khoa học? Tại vì Phật giáo không nói điều gì mà không có kiểm chứng. Phật giáo nói: sự vật là vô thường. Hãy nhìn chung quanh với mắt của mình, kinh nghiệm của mình: có cái gì là thường còn đâu? Cái thường còn duy nhất là khoảnh khắc này đây. Vậy thì tìm thiên đường ở đâu nếu không phải nơi chính cái khoảnh khắc này? Hạnh phúc nằm ngay nơi mỗi khoảnh khắc: đó là bài học hiện đại quý giá nhất mà Phật giáo đem đến cho người Tây phương. Và hãy nhìn thêm nữa: mọi sự mọi vật đều tương quan lẫn nhau mà có và tương quan lẫn nhau mà diệt. Màu hồng nơi đóa hoa kia có phải tự nó mà có không? Đâu phải! Nếu không có mặt trời thì nó đâu có hồng thắm như vậy? Nhưng mặt trời có phải là tác giả duy nhất của màu hồng kia không? Không! Vì nếu không có mưa thì làm sao hoa sống? Nhưng mưa có cũng là do mây, mây có cũng là do hơi nước. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia cũng không. Đó là luật vô ngã của Phật giáo và cũng là luật tương quan tương sinh. Ai đọc sách của nhà vũ trụ vật lý học Trịnh Xuân Thuận đều biết: những luật đó có nhiều điểm hội tụ với khoa học vũ trụ vật lý. Áp dụng được luật đó vào đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời sống xã hội, cam đoan không cần tìm thiên đường ở đâu xa. Đó là chưa kể đến luật nhân quả mà ai cũng có thể dễ kiểm chứng. Từ đó, người Tây phương đi đến một cái nhìn hiện đại hơn nữa vào bản chất của cuộc đời để hiểu chữ“khổ” trong Phật giáo. Họ chất vấn Thượng Đế: Nếu Thượng Đế là toàn năng thì sinh ra làm chi thiên tai, động đất, triều cường, dịch này dịch nọ giết hại phút chốc hàng trăm ngàn người như vậy? Nếu Ngài là nhân từ thì sao con người khổ thế, con người khổ thế thì Ngài ở đâu? Phải chăng, người Tây phương hỏi, khổ nằm ngay trong bản chất của cuộc đời như muối nằm trong biển, mà sinh lão bệnh tử chỉ là những khía cạnh dễ thấy nhất? Từ đó, Tây phương hiểu chữ “niết bàn” của Phật giáo đúng hơn hồi thế kỷ 19: niết bàn là hết khổ, mà hết khổ là tự mình. Bản thân tôi, mỗi khi tôi nghe ai cầu cho người chết được siêu thoát, tôi không khỏi cười thầm, bởi vì “siêu” là vượt lên, “thoát” là giải thoát, vượt lên trên tham sân si thì giải thoát, vậy thì nên cầu cho cả người sống được siêu thoát. Tôi không dám đùa đâu, người Tây phương hiểu điều đó hơn ta, bởi vì họ hiểu tư tưởng nhân bản của chính họ: nhân bản nghĩa là con người vượt lên trên con người, con người có đủ khả năng để vượt lên trên chính mình.
Nhưng vượt lên như thế nào, cụ thể bằng cách nào? Đây là cái mới mà Phật giáo đem đến cho Tây phương và đem đến trong tinh thần khoa học. Trong lịch sử, Tây phương đã vượt quá ta hằng mấy thế kỷ nhờ khám phá thế giới bên ngoài. Nhưng đến một lúc họ bỗng giật mình thấy rằng khám phá thế giới bên ngoài không đủ để đem lại hạnh phúc như họ tưởng bởi vì con người còn có đời sống ở bên trong.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhắc họ:Những vấn đề của chúng ta, dù đến từ bên ngoài, như chiến tranh, như bạo lực, như tội ác, hay đến từ bên trong dưới hình thức khổ đau về tâm lý hay tình cảm, đều sẽ không tìm ra giải pháp chừng nào chúng ta còn không hiểu chiều sâu nội tâm của ta” (3).

Đó là lúc mà ngài và các vị sư đắc đạo của Tây Tạng đến Âu Mỹ, mang theo một ánh sáng khoa học mới rọi soi vào nội tâm của con người, để làm một cuộc cách mạng thứ hai mà người Tây phương gọi là “cách mạng ở bên trong”, bổ túc cho “cách mạng ở bên ngoài” mà Tây phương đã từng làm, từng biết với khoa học. Chìa khóa của hạnh phúc không nằm ở đâu khác hơn là trong nội tâm mỗi cá nhân. Mà muốn nhìn thấy cái chìa khóa đó thì phải rọi soi vào bên trong bằng những kỹ thuật thiền định mà các nhà sư Tây Tạng đã thực chứng do chính kinh nghiệm của họ. Trong lĩnh vực này, đừng hòng các lang băm đến làm ăn bịp bợm: khoa học Âu Mỹ đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc thám hiểm vào não bộ của con người. Các nhà sư Tậy Tạng đã đem chính bản thân để các máy móc tối tân trong các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đo lường ảnh hưởng của thiền định trên não bộ. Họ không phải chỉ đem lời nói, họ đem thực hành, họ đem kỹ thuật, phương pháp cụ thể để các nhà khoa học quan sát, phán xét tính hiệu nghiệm của thiền định, góp phần lớn vào sự phát triển của ngành sinh học thần kinh. Tôi xin thú thực: bản thân tôi có tính đa nghi, khi đọc lịch sử đức Phật, tôi không hiểu làm sao Phật có thể ngồi thiền định dưới bóng cây bồ đề trong suốt 49 ngày. Bây giờ thì tôi hiểu: mỗi người chúng ta đều có một sức dự trữ tâm linh mà ta không ngờ bởi vì chưa bao giờ sử dụng. Tôi sẽ trở lui lại điểm này - cuộc hành trình của ta tìm ta để chữa bệnh cho chính ta và chữa bệnh cho thời đại.

Bây giờ, tiếp tục vấn đề nhân bản và khoa học, có phải sức quyến rũ của Phật giáo chỉ nằm ở tính khoa học của Phật giáo mà thôi hay không? Tôi không nói đến chiều sâu của triết lý Phật giáo ở đây, cũng không nói đến tính minh triết mà Tây phương đang tìm lại. Tôi chỉ hạn chế trong một vấn đề nữa thôi: đạo đức. Đạo đức học ở Tây phương là những răn cấm, những mệnh lệnh. Người Tây phương hiện đại có cảm tưởng như có ngón tay chỉ vào trán và ra lệnh: mày không được thế này, mày không được thế kia, mày làm là phạm tội. Phạm tội với ai? Tại sao như thế là phạm tội? Tại sao tội đó phải nhờ một người khác giải tội với Trên Cao? Đạo đức đó, con người hiện đại chối bỏ vì họ cảm thấy như vậy là hãy còn vị thành niên. Đạo đức của Phật giáo trái hẳn, bắt nguồn từ con người. Không ai ra lệnh, không ai răn cấm. Phật giáo nói: tham thì khổ, sân thì khổ, si thì khổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ bi hỷ xả, cứ thực hành sẽ thấy vui. Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng giết hại, đừng nói dối, đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu: đó là năm điều tôi tự nguyện với tôi, làm được đến đâu chính tôi nhẹ nhàng đến đó. Đạo đức của Phật giáo là thực nghiệm, nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm nội tâm thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc.

Hơn thế nữa, đạo đức Phật giáo còn thức tỉnh con người hiện đại ở Tây phương ở chỗ nới rộng lòng từ bi và ý thức liên đới ra khắp chung quanh, không những giữa người với người, mà còn giữa người với thú vật, với thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của tôn giáo cổ truyền của họ, Tây phương đã cổ vũ, huy động từ thế kỷ 17 mọi cố gắng để chinh phục, cai trị thiên nhiên. Chiến công đó, nhân loại cám ơn. Xẻ sông, lấp núi: cái gì con người cũng làm được, thiên nhiên đã bị nhân hóa. Nhưng thiên nhiên cũng đã bị khai thác, bóc lột đến kiệt quệ, rừng trọc đầu, mưa hóa chất, nước nhiễm độc, chúng ta biết rõ hơn ai hết. Và rốt cục, con người ăn trong miếng ăn những chất độc do chính con người thải ra. Đạo đức đối với thiên nhiên trở thành trách nhiệm của chính con người. Các tôn giáo khác nói: không được giết người. Phật giao nói: tôi nguyện không sát sinh, nghĩa là không giết sự sống, và sự sống đó, thú vật đều có, cây cối thiên nhiên đều có, vũ trụ, khí quyển, trái đất đều có, tất cả đều liên đới với con người, phải yêu thương nhau như một thì mới sống còn với nhau.

Tôi vừa động đến một vấn đề hiện đại có tính tiêu cực: vấn đề môi trường. Bởi vì hiện đại không phải cái gì cũng hay. Hiện đại cũng có lắm tiêu cực. Hiện đại cũng đang gặp khủng hoảng. Bởi vậy, sau khi tán thưởng hiện đại và giải thích Phật giáo hiện đại như thế nào, tôi bắt qua điểm thứ ba, trình bày những khủng hoảng của hiện đại.

Trích trong bài viết HÃY BAY VỚI HAI CÁNH VÀO HIỆN ĐẠI - Tản văn
Chuyện Trò – GS Cao Huy Thuần

Phật giáo là gì ?

Bình Anson lược dịch

Lược dịch từ bài "Basic Buddhism: A Five-Minute Introduction" (Căn bản Phật giáo: Giới thiệu trong năm phút), trong quyển "Good Question, Good Answer" (Khéo Vấn, Khéo Đáp) của Bhikkhu Dhammika, ấn bản Internet
(http://www.buddhanet.net/).
 Hỏi: Phật Giáo là gì?
Đáp: Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ "buddhi", có nghĩa "giác ngộ", "thức tỉnh". Phật Giáo phát nguồn từ hơn 2,500 năm trước, khi Ngài Siddhattha Gotama (Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm), hay Đức Phật, tự mình giác ngộ vào lúc 35 tuổi.
 Hỏi: Có phải Phật Giáo chỉ thuần là một tôn giáo?
 Đáp: Đối với nhiều người, Phật Giáo không phải chỉ là một tôn giáo mà còn có thể xem như là một triết học, hay đúng hơn, đó là "một lối sống". Gọi Phật Giáo là một triết học, vì danh từ "triết học - philosophy" có nghĩa là "sự yêu chuộng trí tuệ", và con đường của đạo Phật có thể tóm tắt như sau:
(1)  sống có đạo đức,
(2)  nhận thức rõ ràng về mọi ý nghĩ và hành động, và
(3)  phát triển sự hiểu biết và trí tuệ.
 Hỏi: Phật Giáo giúp tôi bằng cách nào?
Đáp: Phật Giáo giải thích mục đích của đời sống, giải thích hiện tượng bất công và bất bình đẳng trên thế gian, và cung ứng một phương cách thực hành hay một lối sống để đưa đến hạnh phúc thật sự.
 Hỏi: Tại sao Phật Giáo trở nên phổ biến?
Đáp: Phật Giáo ngày càng phổ biến ở các nước Tây phương vì nhiều lý do. Thứ nhất là vì Phật Giáo có những giải đáp cho nhiều vấn đề trong các xã hội vật chất hiện đại. Tiếp đến, cho những ai có chú tâm, Phật Giáo cung ứng một sự thông hiểu sâu sắc về tâm trí con người và các cách trị liệu tự nhiên, mà các nhà tâm lý nổi tiếng trên thế giới đều công nhận là rất cao cấp và rất hiệu quả.
Hỏi: Đức Phật là ai?
Đáp: Ngài Siddhattha Gotama sinh ra vào năm 563 trước Tây Lịch, trong một hoàng tộc tại Lumbini, nay thuộc xứ Nepal. Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức rằng tiện nghi vật chất và an ninh trong thế gian không bảo đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài đi tìm học các lời dạy, tôn giáo và triết học thời đó, để tìm kiếm chìa khóa đưa đến hạnh phúc. Sau sáu năm học tập và hành thiền, Ngài tìm ra con đường "Trung Đạo" và giác ngộ. Sau khi chứng đắc, Ngài dùng quảng đời còn lại tại thế gian để truyền giảng các nguyên lý trong đạo Phật -- gọi là Pháp, hay Chân lý, cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm 80 tuổi
 Hỏi: Có phải Đức Phật là Thượng Đế?
Đáp: Không, Ngài không là Thượng Đế, và Ngài cũng không tuyên bố như thế. Ngài là người giảng dạy con đường đưa đến giác ngộ, từ kinh nghiệm thực chứng của Ngài.
 Hỏi: Phật tử có tôn thờ các thần tượng không?
Đáp: Những người Phật tử tỏ lòng tôn kính các hình ảnh của Đức Phật, nhưng không tôn thờ, cũng không van xin những điều lợi lạc. Một pho tượng Phật ngồi trong tư thế với hai tay dịu dàng đặt trên vế, với nụ cười từ bi, nhắc nhở chúng ta nỗ lực phát triển tình thương và an định nội tâm. Lễ lạy tượng Phật là để tỏ lòng biết ơn về các lời dạy của Ngài.
 Hỏi: Tại sao nhiều quốc gia Phật Giáo lại nghèo như vậy?
 Đáp: Không hẳn đúng như vậy. Nhật Bản là một quốc gia có truyền thống Phật Giáo sâu đậm và ngày nay cũng là một quốc gia có kinh tế giàu mạnh. Thái Lan, với Phật giáo là quốc giáo, cũng có một nền kinh tế tương đối vững mạnh và phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng một trong các điều dạy của Phật Giáo là tài sản của cải không bảo đảm được hạnh phúc, và tài sản của cải cũng không bao giờ thường còn. Dân chúng trong bất kỳ quốc gia nào cũng chịu đau khổ, cho dù họ giàu sang hay nghèo nàn. Chỉ những người nào thông hiểu các lời dạy trong Phật Giáo thì mới có thể tìm được hạnh phúc thật sự.
 Hỏi: Có phải có nhiều tông phái Phật Giáo không?
 Đáp: Có nhiều tông phái trong Phật Giáo là vì có những khác biệt về văn hóa và truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, căn bản của Phật Giáo vẫn không thay đổi, đó là Pháp hay Chân lý.
Hỏi: Có phải các tôn giáo khác đều sai lầm?
 Đáp: Phật Giáo là một hệ thống tín ngưỡng có tính bao dung đối với các tín ngưỡng hay tôn giáo khác. Phật Giáo chấp nhận các lời giảng đạo đức của các tôn giáo khác, nhưng Phật Giáo còn tiến xa hơn, bằng cách cung ứng một mục tiêu dài hạn trong sự hiện hữu của chúng ta, qua trí tuệ và sự hiểu biết thật sự. Phật Giáo chân chính thì rất bao dung, và không quan tâm chi đến các nhãn hiệu như là "tín hữu Ky-tô giáo", "tín hữu Hồi giáo", "tín hữu Ấn-độ giáo", hay "Phật tử". Vì vậy, trong lịch sử, không bao giờ có các cuộc thánh chiến mang danh Phật Giáo. Cũng vì thế mà những người Phật tử không đi truyền giảng hay cải đạo người khác; họ chỉ giảng giải nếu được ai hỏi đến.
 Hỏi: Phật Giáo có tính khoa học không?
Đáp: Khoa học là tri thức được kết hợp thành hệ thống, qua các dữ kiện được quan sát và thực nghiệm và đề ra các định luật tổng quát của thiên nhiên. Cốt lõi của Phật Giáo phù hợp với định nghĩa đó, bởi vì Tứ Diệu Đế hay Bốn Sự Thật Thâm Diệu, có thể được thử nghiệm và minh chứng bởi bất kỳ người nào, và ngay chính Đức Phật cũng đã từng nói với các đệ tử rằng họ phải thực chứng các lời dạy của Ngài, mà không nên chỉ tin suông. Phật Giáo dựa nhiều trên trí tuệ, hơn là lòng tin.
 Hỏi: Đức Phật đã dạy những gì?
Đáp: Đức Phật đã giảng dạy rất nhiều đề tài, nhưng các điều căn bản trong Phật Giáo có thể tóm tắt trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo.
 Hỏi: Diệu đế thứ nhất là gì?
Đáp: Khổ Đế, chân lý thâm diệu đầu tiên, nói rằng đời sống là đau khổ, nghĩa là phải chịu đau đớn thể xác, già nua, bệnh hoạn, rồi chết. Ta cũng phải chịu đau khổ về mặt tâm lý như cô đơn, phiền giận, bực bội, sợ hãi, bối rối, thất vọng, sân hận. Đây là một sự kiện hiển nhiên, không thể chối cãi. Đây là thực tế khách quan, không phải bi quan; vì bi quan là mong đợi những điều gì trở nên tệ hại. Mặt khác, Phật Giáo giải thích cách thức giải quyết các đau khổ đó và cách thức để có hạnh phúc thật sự.
 Hỏi: Diệu đế thứ nhì là gì?
Đáp: Tập Đế, chân lý thâm diệu thứ nhì, dạy rằng tất cả mọi đau khổ đều do ái dục và tham thủ. Ta sẽ bị phiền khổ nếu ta mong đợi người khác phải tuân theo ý muốn của mình, phải làm giống như mình, nếu ta không được những gì mình muốn, v.v. Ngay cả khi ta muốn và được, điều này cũng không bảo đảm có hạnh phúc. Tâm khát khao ham muốn cướp đoạt của ta niềm vui được thỏa lòng và hạnh phúc. Thay vì kiên trì chiến đấu để thành đạt điều mong muốn, hãy cố gắng sửa đổi chính cái lòng ước muốn của mình.
Hỏi: Diệu đế thứ ba là gì?
 Đáp: Diệt Đế, chân lý thâm diệu thứ ba, là có thể chấm dứt đau khổ và đạt được trạng thái thỏa lòng và hạnh phúc. Khi ta dứt bỏ ái dục, vốn là vô ích, và tập sống từng ngày, chúng ta bắt đầu sống an vui và tự do. Chúng ta sẽ có nhiều thì giờ và năng lực để giúp đỡ người khác. Trạng thái ấy được gọi là Niết Bàn.
 Hỏi: Diệu đế thứ tư là gì?
 Đáp: Đạo Đế, chân lý thâm diệu thứ tư, là con đường đưa đến chấm dứt đau khổ. Con đường này gọi là Bát Chánh Ðạo.
 Hỏi: Bát Chánh Đạo là gì?
 Đáp: Đó là con đường gồm 8 yếu tố chân chánh: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định. Đây là con đường của đạo đức và tỉnh thức -- qua lời nói, ý nghĩ và hành động, và phát triển trí tuệ bằng sự nhận thức rõ ràng về Tứ Diệu Đế và bằng sự tăng trưởng lòng từ bi.
 Hỏi: Ngũ giới là gì?
 Đáp: Đây là năm điều giới luật đạo đức của Phật Giáo. Đó là: không sát hại, không lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không dùng các chất say làm lu mờ trí óc.
 Hỏi: Nghiệp là gì?
 Đáp: Nghiệp hay "nghiệp-quả" là một định luật cho biết rằng mỗi một nguyên nhân đều tạo ra một hậu quả, có nghĩa là các hành động của ta đều có những hậu quả. Định luật đơn giản này đã giải thích nhiều vấn đề: sự bất công trên thế gian, tại sao có người sinh ra lại có phế tật, có người lại có nhiều tài năng, có người có đời sống rất ngắn ngủi. Nghiệp cho thấy tầm quan trọng về việc tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm về các hành động của chính mình, trong quá khứ và hiện tại. Làm thế nào để thử nghiệm tác động nghiệp quả của các hành động của ta? Câu trả lời được tóm tắt bằng cách hãy nhìn xem 3 điểm chính: (1) ý định đằng sau của mỗi hành động, (2) hậu quả của hành động đó vào chính mình, và (3) hậu quả của hành động đó vào những người khác.
 Hỏi: Trí tuệ là gì?
 Đáp: Trong Phật Giáo, Trí tuệ phải được phát triển cùng với Từ bi. Trong một cực đoan, bạn có thể là một người tốt bụng nhưng khờ dại, và trong một cực đoan khác, bạn có thể có nhiều kiến thức nhưng lại không có tình cảm. Phật Giáo dạy ta nên giữ thật sự cân bằng và trọn vẹn cả hai, phải trau giồi cả trí tuệ lẫn và từ bi. Trí tuệ cao nhất là thấy rõ ràng rằng trên thực tế, mọi hiện tượng đều không hoàn toàn, không thường còn, và không có một thực thể cố định. Trí tuệ thật sự không phải chỉ vì tin vào những gì được dạy, mà phải chứng nghiệm và thông hiểu chân lý và thực tế. Trí tuệ đòi hỏi phải có một tâm ý rộng mở, khách quan, không cố chấp. Con đường của Phật Giáo đòi hỏi phải can đảm, nhẫn nhục, mềm dẻo và thông minh.
 Hỏi: Từ bi là gì?
 Đáp: Từ bi bao gồm các phẩm hạnh của lòng san sẻ, sẵn sàng an ủi người khác, thiện cảm, chăm lo và ưu tư. Trong Phật Giáo, ta chỉ thật sự cảm thông người khác khi nào ta thật sự cảm thông chính mình, qua trí tuệ.
 Hỏi: Tôi phải làm thế nào để trở thành một Phật tử?

Đáp: Bất cứ ai cũng có thể tìm hiểu và thực nghiệm các lời dạy của Đức Phật. Ngài dạy rằng lời giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta là ở bên trong chúng ta, không phải ở bên ngoài. Ngài nói với các đệ tử không được tin ngay vào lời dạy của Ngài, mà họ phải tự thử nghiệm các lời dạy đó. Như thế, mỗi người tự có quyết định và tự chịu trách nhiệm về các hành động và sự hiểu biết của mình. Điều này cho thấy Phật Giáo không phải là một tập hợp cố định các tín điều cần phải được chấp nhận trọn vẹn. Đây là những lời dạy để mỗi người tự tìm hiểu, học tập và áp dụng theo tình huống riêng của mình.

Vấn nạn của thế giới hiện đại qua góc nhìn Thích Nhất Hạnh

Nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.
Ngày 10-9-2014, báo La Stampa, một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý đăng một bài phỏng vấn Thiền sư Nhất Hạnh.

- Thưa Thầy, đạo Phật có thể cống hiến được gì cho thế hệ kỹ thuật số hiện nay - thế hệ những người trẻ suốt ngày vùi đầu vào Internet?
- Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ vào internet. Đây  là căn bệnh của thời đại chúng ta. Khi ngồi hai tiếng đồng hồ trước máy vi tính, chúng ta hoàn toàn quên là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện có khả năng mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra vô số vấn đề.
Sử dụng internet là một hình thức tiêu thụ. Ta tiêu thụ thông qua những tư tưởng, hình ảnh, âm thanh mà ta tiếp xúc được trên internet và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hoặc có thể gây tàn hại cho bản thân ta. Thực tế là chỉ riêng lượng thông tin nhận được qua internet thôi cũng đủ khiến cho nhiều người rơi vào tình trạng quá tải thông tin rồi.
Cũng có nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.
Chánh niệm giúp cho ta biết điều độ khi lên mạng, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc có thật sự ích lợi hay chỉ làm cho ta càng cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, quảng cáo, những phim ảnh khêu gợi và kích thích dục tình thì ta đồng thời cũng đang đưa vào trong thân tâm ta những độc tố như giận hờn, bạo động, sợ hãi và thèm khát.

- Theo đạo Phật thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy trong cái thấy đó có còn sự phân biệt giữa thiện và ác hay không?
- Trong thế kỷ thứ 20, chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu và điều này đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác... Chúng ta không ý thức được mối tương quan mật thiết giữa mình với mọi người và mọi loài xung quanh mình. Đạo Phật gọi mối liên hệ đó là “tương tức” (“inter-being”).
Cái hiểu, cái thấy sâu sắc về tương tức chính là nền tảng của con đường đạo đức mà đạo Phật đóng góp cho nhân loại. Những gì xảy ra cho một cá nhân cũng ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Với cái thấy này, sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta sẽ nhận ra được những tàn hại đối với các loài gia súc, gia cầm cũng như đối với hành tinh này do ngành công nghiệp sản xuất thịt gây ra. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất.
Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Chúng ta nghĩ rằng những thứ đó đem lại cho ta hạnh phúc, nhưng thực ra nó có thể dẫn chúng ta đi tới chỗ tàn hoại thân tâm mình.  Những người trẻ thường lẫn lộn giữa tình dục và tình yêu chân thật. Trên thực tế thì tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng nhiều hơn.
Sự thực tập chánh niệm giúp chúng ta mỗi ngày hiểu sâu hơn về người ta thương. Cái hiểu chính là nền tảng của tình thương đích thực. Chúng ta không thể nào có được một tình thương đích thực nếu ta không hiểu được người mình thương.

- Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?
- Gốc rễ của sự sợ hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất cái chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã chứng minh cho ta thấy rằng: không có gì sinh cũng không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến không ngừng.
Quan sát một đám mây, ta có thể đặt câu hỏi: đám mây có thể chết được không? Đám mây có thể từ "có" mà trở thành "không" hay không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây chỉ có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra chính là sự tiếp nối của chúng ta.

- Chúng ta sống trong một thế giới đầy sự xung đột và bất công xã hội. Làm sao ta có thể cải thiện được tình trạng đó với tư cách một Phật tử?
- Sự xung đột và bất công trong xã hội phát sinh ra từ tâm chúng ta. Đạo Phật cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực trong ta. 
Khi tình thương và hạnh phúc có mặt thì ta có thể tạo ra sự bình an trong tự thân và góp phần vào hòa bình trên thế giới. Khi tâm ta bị cuốn đi bởi tham vọng và sợ hãi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta nuôi lớn hạnh phúc và bình an trong giây phút hiện tại. Và đây chính là sự đóng góp tuyệt vời cho nền hòa bình thế giới và cũng đồng thời là nền tảng để chúng ta có thể làm tốt những công tác phụng sự cho xã hội.

- Thầy dạy cho mọi người về sự thực tập chánh niệm và chánh định, thế nhưng một tình trạng đáng lo ngại của thế giới hiện nay là tình trạng suy giảm khả năng tập trung của con người…
- Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta rất dễ bị phân tán. Trong khi đó, thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những phương tiện để giữ cho tâm ta luôn ở trong tình trạng này. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu, chúng tôi được mời hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 nhân viên của Google tại trụ sở chính của tập đoàn này ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập dừng lại, tại vì trong xã hội hiện nay chúng ta luôn có thói quen rong ruổi, tìm cầu. Khi chúng ta có khả năng dừng lại, chúng ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Và đây là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho chính mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt thì ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.
REDS VN                              20 Tháng 9 2014

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Một số băng ghi tại HN Viện 12.7.2014


Băng ghi phần Giới thiệu (PGS TS Nguyễn Thị Ngọc Quyên điều hành) và Khai mạc Hội nghị của GS TSKH VS Phạm Minh Hạc phát biểu 


Băng ghi PGS TS Bùi Tiến Quý đọc thư GS TSKH Phan Anh tại Htại Hội nghị Viện NC&ƯD TNCN ngày 12.7.2014


Bang ghi GS TS Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội phát biểu tại Hội nghị Viện NC&ƯD TNCN ngày 12.7.2014.


(Các băng ghi để làm tư liệu văn bản lưu, chất lượng hình hạn chế)