Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

CÓ KHÔNG - MỘT HỌC THUYẾT VỀ ĐỊNH MỆNH

Bài đã đăng trong Kỷ yếu Hội thảo của Viện NC & ƯD TNCN ngày 29.01.2015

CÓ KHÔNG - MỘT HỌC THUYẾT VỀ ĐỊNH MỆNH

                                      Đồng Thị Bích Hường
                                               Nhà nghiên cứu Tử vi
                                                
“Ngay từ thuở hoang sơ của nhân loại - khi lịch sử hãy còn là truyền thuyết, con người đã cố gắng tìm kiếm những thông tin cho tương lai của cuộc đời. Nhưng tính chính xác của dự báo càng cao, con người càng bị đẩy dần đến sự khắc nghiệt của định mệnh. Hàng thiên niên kỷ đã trôi qua, Nhân loại vẫn loay hoay tìm các minh chứng để trả lời cho câu hỏi: ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?” 
Vào thời mà lịch sử chỉ là những truyền thuyết và huyền thoại, nhưng khi con người đã ý thức được sự tồn tại của chính mình thì cũng muốn biết đến tương lai của cuộc đời. Từ vua chúa đến thứ dân, họ đã tìm đến những nhà tiên tri - những người hoặc nhân danh thần thánh, hoặc nhân danh những quyền lực siêu nhiên - để nghe lời tiên đoán về những việc lành dữ sẽ xẩy ra cho số phận con người và cho những quốc gia. Từ những truyền thuyết và huyền thoại cổ xưa nhất cho đến giai thoại về những nhà tiên tri, những phương pháp bói toán của các nền văn minh cổ còn lưu truyền cho đến sự hiện hữu của những nhà tiên tri nổi tiếng ngay trong thời hiện đại đã chứng tỏ con người luôn muốn biết trước tương lai của mình. Hiệu quả của những lời dự đoán trải dài theo lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay, thỏa mãn được trí tò mò của con người trước những cái sẽ xảy ra cho số phận con người. Oái ăm thay, chính hiệu quả của những lời dự đoán đó lại khiến cho con người phải ngậm ngùi khi đặt vấn đề cho thân phận của mình : Định mệnh có thật hay không ? Như vậy định mệnh được thể hiện rất cụ thể qua những lời tiên tri mà bạn sẽ phải rơi vào một hoàn cảnh đã được biết trước. Bạn có thể đã từng đi xem bói. Thầy bói nói trật lấc. Bạn có thể có lý khi không tin vào định mệnh và chỉ tin vào chính khả năng của mình. Bạn vẫn có thể thành công và tay trắng tạo nên sự nghiệp. Bạn vẫn có thể yên tâm nhắm mắt xuôi tay ở giây phút chót của cuộc đời và di huấn lại cho con cháu: “Không có định mệnh, tất cả đều do chính con người”.
Nhưng, những điều xảy ra cho cuộc đời của bạn chưa chứng minh được rằng: Định mệnh không có thật. Bởi vì, tất cả những tri kiến tích lũy trong cuộc đời bạn, chỉ có thể giải thích được những cái đã xảy ra. Nhưng con người lại muốn biết chính xác những cái sẽ xảy ra. Tính chính xác của sự Dự báo càng cao, con người lại càng bị đẩy gần tới sự khắc nghiệt của định mệnh!
Không chỉ có bạn nhân danh những giá trị nhân bản, những trí thức mà bạn coi là khoa học mà ngay cả những niềm tin tôn giáo chính thống cũng phủ nhận định mệnh và cho rằng chỉ có Đấng Chí Tôn mới quyết định số phận con người. Với niềm tin này cho rằng mọi số phận đều đã được Đấng Chí Tôn an bài từ trước. Số phận con người phụ thuộc vào Đấng Chí Tôn. Bởi vậy, những người trung thành với niềm tin tôn giáo mãnh liệt nhất phải cố gắng làm vừa lòng Đấng Chí Tôn để thay đổi số phận của mình trong hiện hữu, trong tương lai và trong cả những kiếp mai sau. Hoặc số phận của bạn phụ thuộc vào qui luật Nhân & Quả và kết luận là: không có Định Mệnh mà chỉ có sự nhận thức thể hiện qua hành vi con người và hậu quả của nó. Như vậy, trong trường hợp này: Định mệnh phụ thuộc vào tri thức của bạn (luật Nhân Quả), hoặc vào ý chí của Đấng Tối Cao !
Những lời tiên tri hoặc chỉ là sự phản ánh ý chí của Đấng Tối Cao, hoặc là phản ảnh hậu quả của chính những dữ kiện trong cuộc đời của bạn và dữ kiện đó phụ thuộc vào tri thức của bạn !
         Cũng có thể bạn nhân danh khoa học để phủ nhận định mệnh và cho rằng sự bói toán chỉ là hệ quả của tư duy mê tín dị đoan. Nhưng nếu bạn là một nhà khoa học chắc bạn cũng biết một tiêu chí khoa học là :
         "Một giả thiết khoa học chỉ được coi là đúng nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề và sự kiện liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật & có khả năng tiên tri”, hơn nữa chính các nhà khoa học đang mơ ước: "Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên hoàn toàn có thể giải thích mọi sự kiện bao quanh của con người từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ”.
Chúng ta đặt một giả thiết rằng: Tri thức của nhân loại đã đạt được điều mà các nhà khoa học đang mơ ước. Nhưng siêu lý thuyết đó - khi hiện hữu - lại tồn tại trong một cuộc sống và xã hội vẫn tiếp tục phát triển. Như vậy, một trong những chức năng quan trọng của siêu lý thuyết này sẽ lại là những lời dự báo mọi sự kiện bao quanh con người cho đến sự vận động của những thiên hà. Phải chăng chính khoa học, khi đạt đến sự tuyệt đỉnh của nó sẽ lặp lại câu hỏi mà nhân loại đã đặt ra từ ngàn xưa: Định mệnh có thật hay không ?
Khi khoa học đã thống nhất mọi quy luật vũ trụ (Định luật vũ trụ) thì nó phải có khả năng tiên tri trên cơ sở lý thuyết đã được tổng hợp và dự báo mọi vấn đề liên quan đến con người. Một lý thuyết khoa học thực sự phải có khả năng dự báo những hiện tượng liên quan đến nó. Sự khác nhau giữa khả năng tiên tri đã và đang hiện hữu trong lịch sử khi tri thức của nhân loại đạt được một siêu lý thuyết với giả thuyết : Sự tiên tri đang hiện hữu mà tri thức khoa học hiện đại chưa lý giải được căn nguyên của nó, cho nên nó được coi là mang màu sắc huyền bí; còn sự tiên tri trong tương lai thì con người biết được căn nguyên của nó nên không thấy huyền bí. Phải chăng - trong trường hợp này – chính những tiêu chí khoa học và những mơ uớc của nó lại chứng tỏ Định mệnh đang hiện hữu trên thực tế & sẽ được khoa học chứng minh trong tương lai !
Khả năng của khoa học hiện đại có thể đạt được điều mơ ước đó không?
Trong cuốn sách khá nổi tiếng :"Thượng Đế và Khoa học" (Đồng tác giả là ba viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp gồm: Jean Guiton. Grichka Bogdanov. Igor Bogdanov. Nxb Grasset - Paris) cho thấy Thượng Đế vẫn mỉm cuời trước những cố gắng của con người, trước những tri thức khoa học hiện đại nhất trong việc tìm về sự khởi nguyên của vũ trụ. Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản dịch tiếng Việt của Lê Diên.NXB Đà Nẵng), giáo sư Đặng Mộng Lân đã viết:
"Nói cách khác -, Thượng Đế hay khoa học- đó chỉ là hai sự lựa chọn. Guiton đã chọn khả năng thứ nhất. Còn khả năng thứ hai? Không có gì ngăn cản chúng ta với sự lựa chọn còn lại”
Có lẽ giáo sư Đặng Mộng Lân đã lầm. Ở đây không phải là sự lựa chọn mang tính áp đặt chủ quan, mà là phải chứng minh cho một trong hai khả năng ấy: Thượng Đế hay khoa học. Vấn đề đặt ra cho nó thì dù Thượng Đế hay khoa học sẽ đều có trách nhiệm chung để trả lời một câu hỏi tồn tại từ ngàn xưa của nhân loại: “Định mệnh có thật hay không ? ”
Sự trả lời này nhân danh Thượng Đế hay khoa học! Ông Guiton đã lựa chọn khả năng thứ nhất và ông đã chứng minh cho sự lựa chọn của mình qua những lý thuyết khoa học hiện đại và tiên tiến nhất trong cuốn: "Thượng Đế và Khoa học". Nếu ý chí của Thượng Đế chính là sự khởi nguyên của vũ trụ thì sự lý giải cho vấn đề đặt ra của luận đề này sẽ được giải quyết đơn giản hơn nhiều : Định mệnh sẽ không có thật vì nó lệ thuộc vào ý chí của Đấng Chí Tôn khi Ngài muốn thay đổi trật tự của vũ trụ.
Nếu vũ trụ này là một sự tồn tại khách quan, tự nó và do nó - đồng thời khoa học là kết quả của sự nhận thức của con người phản ánh những qui luật vận động khách quan của vũ trụ thì những lời bói toán, tiên tri chính là kết quả của những sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ với cuộc sống con người mà con người có khả năng nhận thức được. Với sự lựa chọn này luận thuyết khoa học sẽ phải chứng minh điều đó. Như vậy cũng đồng nghĩa với việc luận thuyết phải vượt qua chính cái ngưỡng mà nền khoa học hiện đại chưa đạt tới và đang mơ ước. Chỉ có một lý thuyết thống nhất mới có khả năng giải thích được "mọi sự kiện bao quanh con người" và tất yếu nó phải có khả năng tiên tri theo đúng tiêu chí cho một lý thuyết khoa học.
Khi con người nhận thức được những qui luật tương tác của vũ trụ và tích luỹ những tri thức ấy thì chính sự nhận thức lại không thuộc về những qui luật đó. Vì sự nhận thức lúc này là một chủ thể và là đối tác của những qui luật tạo nên "Định mệnh". Tất nhiên nó không phải Định mệnh. Như vậy giữa Định mệnh và phi Định mệnh đâu là chân lý? Chiếc chìa khoá mở bức màn huyễn ảo này đang ở đâu?  Tìm kiếm câu trả lời đã đưa đẩy con người tới Khát vọng tiên tri.
Pascal - nhà tư tưởng Pháp đã có một sự so sánh rất nhân bản về thân phận con người:
 “ Con người chỉ là một cây sậy nhỏ bé và yếu ớt trong vũ trụ. Nhưng là một cây sậy có tư tưởng!”
Số phận con người và kiếp sống của nó thật mong manh. Thiên tai, chiến tranh, đói nghèo, bệnh tật luôn rình rập thân phận con người. Đức Phật đã nói trong sự xót thương:
 “Nước mắt thế nhân bao đời kiếp đã chảy thành bể khổ. Mọi kiếp người trầm luân trong đó. Ngay cả những người cho là sung sướng cũng chỉ lênh đênh trên mặt bể khổ mà thôi”.
    Chính vì thân kiếp mong manh đó mà con người có khát vọng tiên tri với mong  muốn thoát khỏi cảnh khổ trần gian mà họ sẽ phải gặp trong thân kiếp làm người. Chỉ có những sinh vật cao cấp mới có khả năng tiên tri vì sự phát triển của tư duy logic. Đây là tính tất yếu của sự tiến hoá. Những sinh vật bậc thấp không có khả năng này.Do đó khát vọng tiên tri chính là một nhu cầu nhân bản đặc thù của xã hội loài người hướng tới tương lai phát triển tốt đẹp. Nếu định mệnh không có thật, vấn đề sẽ không đơn giản chỉ vì nó là mê tín dị đoan, chỉ vì con người không tin vào định mệnh, điều này sẽ trở nên  phi lý trước khát vọng tiên tri của con người vốn vần tồn tại trong thực tế khách quan. Những lời tiên tri với những phương pháp của nó sẽ cho biết điều đó và định mệnh lại tiếp tục an bài ? Như vậy chẳng phải con người cứ loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn cho chính khát vọng tiên tri của mình? Còn nếu như con người không còn khát vọng biết trước tương lai thì các nhà khoa học có gì để luận bàn. Chính những lời tiên tri với những phương pháp dự báo có hiệu quả của nó, thỏa mãn khát vọng biết trước tương lai của con người là căn nguyên để hình thành ý niệm về “định mệnh”. Vì vậy, vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây là : Những lời tiên tri và những phương pháp của nó bắt đầu từ đâu? Phải chăng bắt đầu từ những phương pháp mà dân gian thường gọi nôm na: Bói toán!

Từ lâu cũng đã có ý kiến cho rằng :
Trong cuộc sống đầy bất trắc và đau khổ của con người, hoặc vì những ước mơ và khát vọng không thành đạt, con người đã bất lực, họ đi tìm cứu cánh cuộc đời ở những khả năng siêu nhiên, thần quyền. Đây là nguyên nhân để nảy sinh những hiện tượng mê tín dị đoan, lợi dụng thần quyền mê hoặc con người. Bói toán được cho là sản phẩm của sự mê tín vào những thế lực siêu nhiên, dựa trên những sự bịa đặt không có căn cứ khoa học.
Thậm chí, có người còn cho rằng bói toán mang màu sắc tôn giáo. Hình ảnh những người hành nghề bói toán quanh quẩn ở đình đền, chùa miếu như củng cố thêm tính hiện thực của giả thuyết này.
Nhưng sự lý giải ấy lại không phải là một minh chứng nên không đủ sức thuyết phục vì bói toán vốn không phải là một hiện tượng riêng lẻ mà là một thực tế đã hiện hữu bao trùm cả không gian và thời gian trong lịch sử nhân loại. Với lập luận này không giải thích được những phương pháp bói toán có hệ thống, qui tắc và chuẩn mực rõ ràng và có phương pháp luận thể hiện tính khách quan trong cách luận đoán. Không những vậy, hiệu quả của những phương pháp bói toán có tính thuyết phục, đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong xã hội loài người. Nếu quả thực bói toán chỉ là sự bịa đặt, lợi dụng mê tín dị đoan thì sẽ chỉ là những hiện tượng riêng lẻ và không có cơ sở để tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại.
Hầu hết các phương pháp bói toán phổ biến thuộc văn minh Phương Đông đều có một cơ sở phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự ứng dụng của các phương pháp này có quy luật mang tính hệ thống, tính khách quan và khả năng tiên tri. Những yếu tố này cũng là tiêu chuẩn để thẩm định một luận thuyết khoa học trên tinh thần của tiêu chí khoa học: “Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng lý giải hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cáhh hoàn chình, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan và phải có khả năng tiên tri”. Như vậy, sự bói toán của nền văn minh Phương Đông phải chăng chính là khả năng tiên tri của một học thuyết khoa học đã hoàn chỉnh và tồn tại trong văn minh nhân loại. Nhưng nền văn minh này đã bị huỷ diệt, nên hệ thống lý thuyết của nó bị sai lệch và thất truyền ? Chính giả thuyết này các nhà khoa học hiện nay đang mơ ước “Một siêu lý thuyết có khả năng thống nhất tất cả các định luật vũ trụ. Có thể lý giải từ sự hình thành các thiên thể cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người”. Phải chăng thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tại trong nền văn minh Đông phương là một học thuyết vũ trụ quan thống nhất và hoàn chỉnh và những quẻ Dịch chính là những ký hiệu siêu công thức của học thuyết này và những phương pháp bói toán của nó chính là khả năng tiên tri - một yếu tố cần để thẩm định một lý thuyết được coi là khoa học - một khả năng tiên tri giải thích "mọi vấn đề liên quan đến con người" mà các nhà khoa học đang ngày đêm cố gắng làm sáng tỏ mọi vấn đề hóc búa . Căn cứ vào những hiện tượng và vấn đề trên, có những giả thuyết cho rằng: Những phương pháp bói toán đang tồn tại trong văn minh Đông phương là hệ quả của một lý thuyết thống nhất vũ trụ, tổng hợp tất cả các định luật vũ trụ, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến hầu hết những vấn đề liên quan đến con người. Khả năng bói toán (Tính tiên tri, một điều kiện cần của một lý thuyết khoa học) chính là kết quả ứng dụng và cũng là sự chứng tỏ tính khoa học của siêu lý thuyết . Với giả thuyết này sự chứng minh sẽ cực kỳ khó khăn vì ngay bây giờ khoa học hiện đại vẫn còn đang mơ ước đạt tới một siêu lý thuyết vũ trụ quan. Hay nói một cách khác: Sự chứng minh cho giả thuyết này phải vượt qua cái ngưỡng mà chính nền khoa học hiện đại chưa đạt tới.
"Một lý thuyết khoa học phải có khả năng tiên tri". Đây là yếu tố cần để thẩm định một lý thuyết nhân danh khoa học. Nhưng những nền văn minh cổ đại trong lịch sử văn minh nhân loại nhận biết được đến ngày nay trong đó có nền văn minh Đông phương huyền bí chỉ để lại những phương pháp tiên tri mang tính ứng dụng và nhân loại chưa tìm thấy cơ sở lý thuyết nào để có những phương pháp tiên tri đó.  Khi nền khoa học hiện đại mới định hình và cách đây không lâu  người ta đã giải thích một cách đơn giản cho các phương pháp bói toán Đông phương là "mê tín dị đoan". Với cách giải thích này không còn gì để bàn và tất nhiên không cần phải tư duy. Nhưng những hiệu quả của lời tiên tri trải hàng ngàn năm trong lịch sử nhân loại, tự nó đã bác bỏ cách giải thích trên và không ít người đi tìm nguyên nhân sâu xa của sự huyền bí. Ngày nay, khi khoa học lý thuyết phát triển, những nhà khoa học hàng đầu đã chú ý đến lý học Đông phương và coi đó là đối tượng nghiên cứu khoa học, mong vén bức màn huyền hoặc của nến văn minh này. Căn cứ vào tiêu chí khoa học hiện đại xuất hiện khi khoa học lý thuyết phát triển, Luận thuyết "Định mệnh có thật hay không?" có tham vọng minh chứng với bạn đọc một lý thuyết đứng đằng sau các phương pháp bói toán Đông phương và đó chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang kiếm tìm. Chúng ta hãy bắt đầu từ việc tham khảo các phương pháp bói toán - hay diễn đạt một cách chính xác hơn đó là: tìm hiểu khả năng tiên tri của nền lý học Đông phương.
Hiệu quả và sự sai lệch của phương pháp bói toán. Bói toán và Dự đoán


          Khi nói đến xem “bói” thường làm người ta nghĩ ngay đến một thể thức huyền bí & cố gắng tìm trong lời phán truyền thiêng liêng những diễn biến của cuộc đời đã được an bài. Sự nhạy cảm của những người có tiếp thu tri thức khoa học dễ liên hệ đến tính chất mê tín dị đoan và lạc hậu của thể thức này. 

  Ngày nay, một số phương pháp bói toán đã được đặt vấn đề về tính khoa học của nó. Với “tinh thần khoa học” theo kiểu “thời buổi khoa học thì không có ma”, người ta không gọi là xem bói nữa, mà gọi là môn “dự đoán học”. Như “Dự đoán theo tứ trụ”, “Chu Dịch và dự đoán học”. Thậm chí môn phong thuỷ, cho đến ngày hôm nay  chưa một nhà khoa học nào chứng minh được nguyên lý của nó để gỡ bỏ bức màn huyền bí, nhưng cũng được gọi bằng một từ rất thời thượng là “khoa học phong thuỷ”. Gọi như vậy cho nó dễ hòa nhập với “tinh thần khoa học”, tránh mặc cảm bị coi là “mê tín dị đoan”. Những điều này chỉ chứng tỏ một cách nhìn mới về những hiện tượng đã tồn tại trong xã hội loài người, còn bản chất của hiện tượng chưa hề thay đổi và vẫn còn chìm sâu trong huyền hoặc. Xét về mặt ngữ nghĩa thì từ “bói toán” chính xác và bao hàm hơn “dự đoán” nhiều. Từ “bói” theo nhà nghiên cứu Lê Gia có xuất xứ từ nghĩa Hán Việt của chữ “bối”, nghĩa là cái lưng. Tìm phía đằng sau lưng là chỗ không nhìn thấy, không biết được. Vậy từ “bói” là từ “bối” mà ra (Tức là có gốc Hán?!), chỉ việc đi tìm cái chưa biết. Trong khi “Bói” là từ thuần Việt, có liên hệ với các từ bới, bươi, bơi, bái....nghĩa là động tác tìm kiếm những cái bị khuất lấp. “Toán” là phương pháp luận đoán cái bị khuất lấp. Tất nhiên nếu phương pháp đúng và làm toán giỏi thì việc đào bới có hiệu quả, tìm thấy cái cần tìm. Phương pháp sai và làm toán dở thì đào bới cũng không thể tìm thấy. Còn “dự đoán” thì không mang tính khẳng định rõ ràng. Tất nhiên nó còn bao hàm cả tính chủ quan và việc nói phong long! Thí dụ như "Dự báo thời tiết" của các nha khí tượng thủy văn trên thế giới. Để biết trước tương lai, con người có rất nhiều phương pháp bói toán, từ cực kỳ huyền bí cho đến có hẳn một phương pháp luận, có hệ thống và những quy tắc, chuẩn mực rõ ràng. Những phương pháp bói toán huyền bí thường ít được tin tưởng, trừ sự dự báo rất chính xác được lặp lại nhiều lần. Trong thực tế, trường hợp điển hình của loại bói huyền bí có thể thí dụ như bà Van Ga ở Bungary, hoặc khả năng tìm mộ xuất hiện trong thập niên gần đây ở Việt Nam, còn lại là những phương pháp dự báo có phương tiện dự báo hoặc có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng, như Bói Dịch, Tử Vi, bói bài Tây, bói Kiều, bói chân gà, bói lá trầu, bói bằng quả cầu thuỷ tinh...Trong phương pháp bói cần phải có phương tiện dự báo, có thể chia làm hai loại: phương pháp dự báo có phương pháp luận và qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và không có qui tắc chuẩn mực rõ ràng. Trong mỗi loại lại cần xét đến định lượng của tính chất ngẫu nhiên thuộc từng phương pháp cụ thể. Với sự phân loại này thì phương pháp dự báo có định lượng tính ngẫu nhiên ít nhất, có phương pháp luận rõ ràng, có hệ thống và qui tắc hẳn hoi phải kể đến môn Thái ất và Tử Vi đẩu số, hoặc các môn bói toán có dữ kiện năm , tháng, ngày, giờ  sinh khác như Tử Bình, Mai hoa Dịch, Lạc Việt độn toán.... Nhưng đây cũng là những phương pháp ít được các nhà nghiên cứu chú ý. Ngược lại, phương pháp bốc Dịch (chứ không phải bản thân Kinh Dịch) mang nhiều yếu tố ngẫu nhiên, hay nói một cách khác là gần gũi với tính huyền bí hơn nhưng lại khá phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến tính khoa học của nó trong các trước tác của mình với một "tinh thần khoa học nghiêm túc”! Thời gian gần đây, có rất nhiều cuốn sách có nội dung trình bầy các phương pháp dự đoán tương lai của nước ngoài được dịch và xuất bản khá phổ biến ở Việt Nam như: “Dự đoán theo tứ trụ”, “Chu Dịch và dự đoán học” của Thiệu Vĩ Hoa, “Bí ẩn của tướng thuật” của Trần Hưng Nhân và đặc biệt hai bộ kỳ thư nổi tiếng của học thuật cổ Đông phương có khả năng dự báo tương lai là Kinh dịch và Mai hoa dịch số cũng được ấn hành, chưa kể hàng trăm đầu sách của những nhà nghiên cứu khắp thế giới. Gần đây nữa là cuốn Thái ất thần kinh, một kỳ thư ngoại hạng, tương truyền của ngài Trạng Trình đã dùng để đoán những sự kiện xảy ra trước và sau 500 năm trong lịch sử, cũng đã được Nxb Văn Hoá Dân Tộc xuất bản. Thậm chí cả Tử Vi đẩu số, một cuốn sách có tham vọng dự đoán cho số phận con người đến từng ngày trong cuộc đời, cũng được giới thiệu phương pháp luận đoán của nó trong cuốn “Kinh Dịch với hệ nhị phân” (Gs Hoàng Tuấn. Nxb VHTT 2002). & hàng chục đầu sách còn lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác đều có tham vọng dự báo cho số phận con người.
Không phải chỉ đến bây giờ mà hàng thiên niên kỷ đã trôi qua, sự chứng nghiệm của những kỳ thư này khiến cho con người phải suy nghĩ về thân phận của mình, về mặt này thì Tử Vi đẩu số, ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã đặt ra cho con người sự thách đố lớn nhất của định mệnh ngay từ khi mới chào đời. Trong tất cả các phương pháp dự đoán, hiệu quả của nó còn tuỳ thuộc vào khả năng của người dự đoán. Sự phân tích các phương pháp dự đoán dưới đây, loại trừ tác nhân người dự đoán trong hiệu quả của nó, chúng ta chỉ bàn đến hiệu quả về mặt lý thuyết thôi.
Phương pháp bói toán có hệ thống: Tử Vi đẩu số - Hiệu quả và định mệnh?

          Tử Vi đẩu số là môn dự đoán tương lai trong giới hạn số phận của từng con người cụ thể và những vấn đề liên quan đến mỗi cá nhân. Phương pháp coi Tử Vi rất phức tạp, đòi hỏi người coi phải có tri thức nhất định để luận đoán. Để lập một lá số Tử Vi, dữ kiện phải có là ngày, giờ, tháng, năm sinh theo âm lịch Đông phương.  Trên cơ sở đó, hơn 150 đại lượng gọi theo tên những vì sao được phân loại (theo bản văn chữ Hán, còn Tử Vi lưu truyền ở Việt Nam chỉ có khoảng 110 vì sao), gồm: chính tinh, trung tinh và phụ tinh. Các vì sao này được phân bố theo những quy tắc định trước cho mười hai cung qui ước của lá số, lần lượt có tên gọi: 1.Bản mệnh, 2.Anh em (Huynh đệ), 3.Vợ hoặc chồng (Phu Thê), 4.Con cái (Tử Tức),5.Tiền Tài (Tài Bạch), 6.Bệnh Tật (Giải ách), 7.Di chuyển (Thiên Di),8.Quan hệ xã hội (Nô Bộc), 9.Nghề nghiệp chức vụ (Quan Lộc),10.Đất đai nhà cửa (Điền Trạch),11.Phúc Đức,12.Cha mẹ (Phụ Mẫu). Mười hai cung của Tử Vi bao gồm hầu hết những mặt chủ yếu của sự hoạt động và những mối quan hệ gia đình, xã hội của con người. Để luận đoán một lá số Tử Vi đòi hỏi phải có sự phân tích và nghiên cứu công phu dựa trên sự tương tác giữa các đại lượng thể hiện qua tên các vì sao và tương quan giữa các cung trong lá số. Người luận đoán cũng cần phải có kiến thức để xử lý các đại lượng phản ánh sinh hoạt thời cổ phù hợp với sinh hoạt hiện đại. Thí dụ: Sao Thiên Mã ứng về vật dụng, trước đây có thể đoán là con ngựa, bây giờ phải luận là xe gắn máy, hoặc xe hơi..... Trong 12 cung của Tử Vi thì cung Mệnh có tính quyết định cho số phận con người. Những đại lượng được phân bố trong cung Mệnh sẽ phản ánh từ nhân cách, cá tính, chỉ số thông minh, khả năng nhận thức, thói quen, kể cả hình dáng bên ngoài. Sự tương tác giữa các đại lượng trong cung Mệnh và các cung khác trong sự vận động theo thời gian cuộc đời, sẽ phản ánh diễn biến số phận. Tham vọng dự đoán của lá số Tử Vi cho một người rất lớn qua 12 cung của lá số, người ta muốn đoán cả từng giai đoạn của cuộc đời, từng năm, từng tháng, từng ngày và có thể cả từng giờ. Hiệu quả của sự đoán, nếu người ta dự đoán giỏi, đôi khi rất đáng kinh ngạc. Qua phương pháp dự đoán của Tử Vi, cũng như các môn bói toán khác thì định mệnh là một thế lực siêu nhiên đang thật sự hiện hữu hay chỉ là một danh từ hoài nghi về sức mạnh của những qui luật đang chi phối con người? Phải chăng cổ nhân đã dày công nghiên cứu để cho hậu thế một cảm nhận hoài nghi về sự bất lực của con người cho số phận của mình? Sẽ là một kết luận vội vã nếu cho rằng : Tử Vi là một học thuật huyền bí mang tính dị đoan. Cũng khó có thể giải thích một cách đơn giản cho rằng: sự tồn tại của Tử Vi là do áp đặt của các thế lực phong kiến. Khi tâm lý con người luôn muốn tìm hiểu về tương lai mà Tử Vi lại không chứng tỏ được khả năng đáp ứng nhu cầu dự đoán đó thì khó có thể trường tồn theo năm tháng . Cũng khó có thể cho rằng Tử Vi là hệ quả của chiêm tinh học cổ đại vì các đại lượng trong Tử Vi là những ngôi sao định mệnh rồi nhân danh khoa học vội kết luận là mê tín dị đoan. Một tinh thần khoa học thực sự phải được thể hiện qua những tiêu chí khoa học cụ thể, chứ không thể được coi là có “tinh thần khoa học” chỉ vì không tin ma quỉ. Nếu ta so sánh những đặc trưng của một lý thuyết khoa học bao gồm : Tính khách quan, tính quy luật,,tính hệ thống và tính tiên tri thì phương pháp luận đoán của Tử Vi mang đầy đủ những tính chất đó. Tử Vi có hẳn một phương pháp luận và những qui tắc chặt chẽ cho nó. Trong môn Tử Vi không hề có dấu ấn của thần quyền & chính khả năng tiên tri - là tính ứng dụng cụ thể của môn Tử Vi - sự tồn tại tính bằng thiên niên kỷ với một không gian phổ cập, rộng khắp ở những nước có ảnh hưởng của văn minh Đông Phương đã chứng tỏ điều này. Hoàn toàn có cơ sở khoa học khi đặt một giả thuyết : Môn Tử Vi chính là một siêu công thức đã được ký hiệu hoá, phản ánh một hiệu ứng vũ trụ tương tác có tính qui luật tới môi trường trái đất và ảnh hưởng tới từng con người. Nhưng sự chứng minh cho giả thuyết này là một việc không đơn giản, bởi vì phương pháp luận của Tử Vi dựa trên thuyết Âm Dương Ngũ hành, một học thuyết cho đến nay vẫn còn quá nhiều bí ẩn do thất truyền. Nhưng bắt đầu từ giả thuyết này mới có thể đi tìm tính hiệu quả của môn Tử Vi qua phương pháp dự báo của nó, dẫn tới sự lý giải luận đề được đặt ra. Còn nếu như coi Tử Vi là mê tín dị đoan thì đây chính là một cách tư duy đơn giản nhất và không có gì để luận bàn.


 Những khiếm khuyết của phương pháp luận đoán theo Tử Vi 
 Cũng đã có nhiều ý kiến hoài nghi tính hiệu quả của khoa Tử Vi với những lập luận có vẻ chắc chắn góp phần hỗ trợ cho sự phản biện khoa Tử Vi về sự hoàn chỉnh của nó trong việc dự đoán tương lai cho mỗi con người.
1/ Những lý thuyết thống nhất trong văn minh nhân loại
Lịch sử văn minh nhân loại có rất nhiều mảnh rời rạc cố gắng giải thích sự hình thành vũ trụ. Những yếu tố để giải thích sự hình thành, sự vận động của các thiên hà và các vấn đề liên quan đến con người trong lịch sử tiến hóa của văn minh nhân loại đó chính là thuyết cho rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra vũ trụ, tạo ra bầu trời và trăng sao. Ngài đã sai các thiên thần cai quản các vì sao và đẩy các chuyển động của nó. Ngài quyết định số phận của con người. Thuyết này đã tồn tại, hình thành và phát triển trong một bộ phận của văn hóa nhân loại hàng ngàn năm. Nó thỏa mãn nội dung của một lý thuyết thống nhất. Nhưng nó không phải là một lý thuyết khoa học so với tiêu chí khoa học :
 Một lý thuyết khoa học được coi là đúng phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật & khả năng tiên tri.
   So sánh với tiêu chí khoa học thì thuyết "Thương Đế tạo ra vũ trụ" không đáp ứng được các yếu tố về tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri. Bởi vậy, trong trường hợp này "không có định mệnh" do tất cả các quy luật tương tác trong vũ trụ thuộc về ý chí của Thượng Đế. Nhưng liệu nền khoa học hiện đại với tri thức và điều kiện hiện nay có thể tìm ra một lý thuyết thống nhất không ? Trong cuốn “Lược sử thời gian”, phần: “Lý thuyết thống nhất của vật lý học”, SW Hawking nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế gới thế kỷ XX đã viết như sau: “… có thực tồn tại một lý thuyết như thế hay không? hay chúng ta đang chỉ săn đuổi một ảo ảnh? Giả thiết này có ba khả năng:
1-    Quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh mà chúng ta một ngày nào đó sẽ phát minh ra, nếu chúng ta có đủ tài năng.
2-    Không tồn tại một lý thuyết tối hậu của vũ trụ, chỉ tồn tại một chuỗi vô cùng các lý thuyết mô tả vũ trụ ngày càng chính xác.
3-     Không tồn tại một lý thuyết nào về vũ trụ, các sự cố không thể tiên đoán vì vượt quá thời gian tới hạn nào đó, chúng xảy ra một cách ngẫu nhiên, tuỳ tiện.
 Với sự ra đời của cơ học lượng tử, chúng ta phải thừa nhận rằng các sự cố không thể được tiên đoán với độ chính xác hoàn toàn mà luôn tồn tại một độ bất định. Nếu muốn người ta có thể gán sự ngẫu nhiên đó cho sự can thiệp của Chúa, song đấy quả là một sự can thiệp kỳ lạ : không có một chứng cứ gì cho thấy can thiệp đó được định hướng đến bất kỳ một mục đích nào
4-     Thực vậy, nếu có một mục đích, thì không còn là ngẫu nhiên. Trong thời đại hiện nay, chúng ta đã loại bỏ hữu hiệu khả năng thứ ba bằng cách định nghĩa lại mục đích của khoa học. Mục tiêu của khoa học là : xây dựng một bộ định luật có khả năng cho phép chúng ta tiên đoán có các sự cố chỉ trong giới hạn xác định bởi nguyên lý bất định. Khả năng thứ hai, khả năng tồn tại một chuỗi vô cùng những lý thuyết ngày càng tinh tế phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta.

 Có nhiều xác xuất may mắn là sự nghiên cứu những giai đoạn sớm của vũ trụ kết hợp với những đòi hỏi chặt chẽ của toán học sẽ dẫn chúng ta đến một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh trong giới hạn cuộc đời của nhiều người. Nếu chúng ta thực sự tìm ra được một lý thuyết tối hậu về vũ trụ thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn hoàn toàn rằng chúng ta đã tìm ra được một lý thuyết hoàn chỉnh. Song nếu lý thuyết chặt chẽ về mặt toán học và luôn đưa ra những tiên đoán phù hợp với quan sát, thì chúng ta có thể tin một cách hợp lý rằng đó là một lý thuyết đúng đắnNó sẽ kết thúc một chương dài đầy vinh quang trong lịch sử đấu tranh trí tuệ của con người để tìm hiểu vũ trụ. Đồng thời nó cũng cách mạng hoá sự hiểu biết của con người về các định luật  của vũ trụ. Thời Newton một người có giáo dục rất có thể nắm được toàn bộ kiến thức của nhân loại, ít nhất là trong những nét cơ bản. sau đó do nhịp độ phát triển của khoa học làm cho khả năng trên không còn nữa vì rằng các lý thuyết luôn thay đổi để phù hợp với những quan sát mới, chúng không thể đơn giản hoá để một người bình thường có thể hiểu thấu. Bạn phải là một chuyên gia và dẫu là một chuyên gia bạn cũng chỉ hy vọng nắm bắt được một phần các lý thuyết khoa học. Ngoài ra khoa học tiến nhanh đến mức những kiến thức thu nhận được ở học đường cũng luôn bất cập với thời đại. Chỉ một số ít người theo kịp được với ranh giới tiên tiến của kiến thức và số người đó cũng phải dùng toàn bộ thời gian để làm việc và chuyên sâu vào một lĩnh vực nhỏ. Số đông còn lại ít có khái niệm về những thành tựu tiên tiến của khoa học và những vấn đề lý thú nảy sinh từ đó. Bảy mươi năm về trước, nếu tin lời Eddington thì chỉ có hai người hiểu được thuyết tương đối. Còn ngày nay, hàng vạn sinh viên đại học hiểu được lý thuyết đó và hàng triệu người ít nhất đã đọc nó.
Nếu một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh được phát minh chỉ còn là vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó được thấu triệt và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có được một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta. Nếu chúng ta tìm được một thuyết thống nhất hoàn chỉnh điều đó cũng không có nghĩa rằng chúng ta có khả năng tiên đoán mọi sự cố nói chung vì hai lẽ. 
+/ Do giới hạn mà nguyên lý bất định của cả môn khoa học lượng tử áp đặt lên mọi quyền lực tiên đoán của chúng ta. Chúng ta không thể làm gì được để vượt giới hạn đó. song trong thực tiễn giới hạn thứ nhất đó còn ít ràng buộc hơn giới hạn sau đây. Vấn đề là ở chỗ chúng ta không thể giải được các phương trình của lý thuyết một cách tuyệt đối chính xác, trừ vài trường hợp rất đơn giản. Chúng ta không thể giải chính xác ngay chuyển động ba vật trong Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton và khó khăn sẽ tăng lên với số vật tham gia chuyển động vì mức độ phức tạp của lý thuyết. Chúng ta đã biết nhiều định luật điều hành vật chất dưới điều kiện cực đoan nhất. Chúng ta cũng đã biết những định luật cơ bản điều khiển mọi đối tượng của hoá học và sinh học nhưng chắc chắn chúng ta không quy các đối tượng đó về thực trạng của những bài toán giải được, đến nay chúng ta đạt được quá ít tiến bộ trong việc tiên đoán cách xử sự của con người từ những phương trình toán học.
    Lập luận trên chứng tỏ S. W Hawking đã phủ nhận khả năng thứ ba, vậy chỉ còn hai khả năng:
1-    Quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh mà chúng ta một ngày nào đó sẽ phát minh ra, nếu chúng ta có đủ tài năng.
2-    Không tồn tại một lý thuyết tối hậu của vũ trụ, chỉ tồn tại một chuỗi vô cùng các lý thuyết mô tả vũ trụ ngày càng chính xác.
& bản thân S.W Hawking cũng nhận thấy rằng:
    Dường như hàng chuỗi các lý thuyết ngày càng tinh tế phải có một giới hạn khi chúng ta tiếp cận với những năng lượng ngày càng cao và ắt phải có một lý thuyết tối hậu về vũ trụ.
 S.W Hawking đã nghiêng về khả năng thứ nhất có tính tiên đoán trong điều kiện tri thức khoa học hiện nay về tính tất yếu phải có một lý thuyết thống nhất đang tồn tại mà con người có khả năng tìm ra. Vậy những điều kiện cần của nó là gì?
+/ Do tiêu chí cho một lý thuyết khoa học thống nhất.
 Sự khẳng định yếu tố cần có đầu tiên là lý thuyết này phải thỏa mãn tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học nói chung cũng luôn được nhắc lại một cách có chủ ý như là một phương châm trong nghiên cứu để đánh giá & nhìn nhận: “Một lý thuyết khoa học được coi là đúng phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.”
           Yếu tố cần có thứ hai là lý thuyết này phải thỏa mãn yêu cầu:
“Thống nhất tất cả mọi quy luật vũ trụ. Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích được từ sự hình thành vũ trụ, từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ và mọi hành vi bao quanh con người”
 Yếu tố cần có thứ ba đồng thời cũng là tiêu chí cho một lý thuyết khoa học có tính chất bổ sung cho tiêu chí trên là :
  “Một lý thuyết khoa học phát triển trên cơ sở tri thức khoa học trước đó phải nội hàm những lý thuyết khoa học trước đó liên quan đến nó và không phủ nhận những thành tựu của những tri thức khoa học đã đạt được”
   Một lý thuyết thống nhất vũ trụ khoa học phải bảo đảm được tối thiểu các tiêu chí trên. Chúng ta, những người quan tâm đến lý học Phương Đông nhận thấy rằng : Phải chăng trong nền văn minh cổ Đông phương đã tồn tại một lý thuyết như vậy? Nếu xét nội dung cần có của một lý thuyết thống nhất thì đây chính là điều kiện đang có của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhưng bản thân thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các bản văn cổ chữ Hán lại không chứng tỏ là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán mặc dù những phương pháp ứng dụng của nó đã chứng tỏ nó là hệ quả của một lý thuyết hoàn chỉnh. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu khoa học vẫn cần tiếp tục có những ứng dụng để minh chứng:
  “Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán đã tồn tại trên thực tế của lịch sử văn hóa Đông Phương. Sự thăng trầm của lịch sử đã khiến nó bị thất truyền và trở thành rời rạc, huyền bí. Ngày nay nhiều nội dung & ứng dụng của học thuyết này đã đáp ứng được yêu cầu của một lý thuyết thống nhất theo tiêu chí khoa học.”


Nguồn tư liệu: Lý học Phương Đông

PHONG THỦY TRONG KIẾN TRÚC VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG

Bài đã đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Viện NC & ƯD TNCN 29.01.2015

PHONG THỦY TRONG KIẾN TRÚC VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG
MỘT TINH HOA VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
Doãn Phú
Chủ nhiệm Bộ môn Phong thủy

Nói đến thuật phong thủy thì nhiều người đã nghe qua, một số người đã biết cách làm nhiều người thích tìm hiểu Phong – Thủy, tất nhiên cũng có một số người phản đối cho là mê tín dị đoan, phản khoa học. Sách phong thủy hướng dẫn sử dụng trong kiến trúc xây dựng và quy hoạch có trên 10 đầu sách và tác giả nào cũng nói sách của mình là một công trình nghiên cứu có giá trị.
Ngày 29 tháng 11 năm 2012, Bộ môn phong thủy của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người được thành lập cùng với 5 bộ môn, đánh dấu sự nhìn nhận của Nhà nước và của các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và ứng dụng Bộ môn Phong thủy, bộ môn đã tồn tại ở Việt Nam hàng ngàn năm.
Người làm phong thủy từ xưa đã được tôn kính gọi là “Thầy địa lý” dùng từ “Thầy” để tỏ sự khâm phục, kính trọng ngang với “Thầy giáo”, “Thầy thuốc”. Trong dân gian, chuyện truyền miệng về Phong Thủy từ xưa cũng có cái hay và kỳ thú đáng kính phục – nhưng cũng có những chuyện về phong thủy làm tán gia bại sản, sống để bụng, chết mang theo để người đời cười chê.
Hiện nay trong xã hội nhiều người có nhu cầu muốn tìm hiểu và hỏi các nhà nghiên cứu và thực hành phong thủy. Những ý hỏi với chủ đề như sau:
- Lối ra vào nhà, tiêu thủy, thu thủy…, nơi để bàn thờ tổ tiên, chỗ đặt bếp đun, bể phốt… thể nào hợp lý cho tuổi mình.
- Chỗ ngồi và hướng ngồi làm việc, vị trí của trụ sở làm việc, cửa hàng kinh doanh có được tốt không, két bạc để đâu, kích thước bàn ghế tủ rộng dài thế nào…
- Hỏi vị trí đặt tượng các vị Anh hùng, các danh nhân, hỏi chỗ khoan giếng hoặc lấp giếng trong khuôn viên nhà.
Khu chung cư cao tầng với tuổi ông A hay bà B con cái tuổi C – D nên chọn phòng nào, hướng nào thì tốt…
Những nhu cầu trên là có thực, mong muốn mọi người trong gia đình có cuộc sống hạnh phúc, được khỏe mạnh phát đạt… Việc chọn đất, chọn nhà để mua, để ở là chủ động mang tính tích cực – làm dương cơ chóng phát nhưng không bền nên có câu “Không ai giầu 3 họ, không ai khó 3 đời”. Các sách vở đã chỉ rõ, giải pháp các câu hỏi trên.
Phong thủy là di sản văn hóa vật thể còn tồn tại ở nhiều quốc gia nhưng dị biệt và mang tính “thần bí”. Sách vở ghi chép thuật Phong Thủy bị thất truyền nhiều, ta không nên vội vàng đánh giá Phong thủy là dị đoan, là vô bổ, là mê tín phản khoa học. Tôi mong các nhà khoa học tham gia góp ý kiến, đánh giá đúng đắn tác dụng của nó.
Trong giới khoa học Trung Quốc ở thế kỷ 20, giáo sư Vương Kỳ Hưởng ở trường Đại học thành phố Thiên Tân đột nhập vào “Khu cấm địa phong thủy” để nghiên cứu áp dụng vào lĩnh vực thiết kế kiến trúc. Ông cho rằng thuật phong thủy vốn là tinh hoa lý luận của Trung Quốc cổ đại. Giáo sư tiến sỹ toán học Thiếu tướng Nguyễn Đình Ngọc cho rằng: Đánh giá phong thủy trên thế giới, Nhật Bản là nước áp dụng phong thủy bài bản nhất, hiệu quả nhất.
Nơi cứ trú là vấn đề đời sống cộng đồng, tương quan và tương hợp mật thiết với tâm lý và nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần của mọi thế hệ trong dòng họ, hoặc quy hoạch khu dân cư cho một làng, một tỉnh… Phong thủy dần đã hình thành một môn học mang tính hàn lâm nghiên cứu vấn đề nơi ở của người dân, quy hoạch khu vực đó là quy hoạch và kiến trúc.
Nội dung chính của phong thủy là một loại học vấn mà người ta dùng để sử lý và lựa chọn hoàn cảnh ăn, ở, xây dựng cung thất, đền chùa, lăng mộ, một khu dân cư…
  Phong là hiện tượng không khí chuyển động
Thủy là dòng nước
Khí tức là nói địa khí (khí đất)
Sinh khí tức là đại khí có sinh cơ (sức sống)
Đón sinh khí là tìm kiếm hoặc lợi dụng địa khí có sức sống
Phong thủy là Thuật số đón nhận sinh khí.
Từ xưa, do sự xem trọng nơi ở: chống thú dữ, chống giặc xâm lăng, không ở vùng lụt lội, giao thông đi lại thuận tiện (đường bộ, đường sông) có đất đai màu mỡ trồng trọt, đảm bảo cuộc sống, sinh con cháu nối dõi dòng tộc… để có lực lượng sản xuất và khi có chiến tranh thì có đủ lực lượng để chống ngoại xâm.
Nên hình thành tập tục lựa chọn nơi sống để ký thác ước vọng trên, cần có một chỗ dựa tinh thần đó là thuật phong thủy ngày nay mà chúng ta gọi là địa lý phong thủy.
Theo phong thủy truyền thống từ Trung Quốc lựa chọn dữ kiện như phương hướng, vị trí, hoàn cảnh xung quanh chỗ ở, quy mô, hình thức, màu sắc, dứt khoát phải chú ý tới ngày giờ xây cất để dự đoán tiền đồ cho con người và nó là một loại phương thuật trong nhiều loại phương thuật thời cổ đại. Đồng thời giải quyết vấn đề tâm lý về nơi cư trú và nơi chôn cất của người đã mất (mồ mả).
Ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo, Malaysia, Phong Thủy vẫn tồn tại khá rộng rãi và sâu rộng trong sinh hoạt của đời sống cộng đồng.
Môn phong thủy là một tinh hoa văn hóa của Châu Á, và đặc biệt là ở Trung Quốc xây dựng trên cơ sở:
1/ Địa điểm này có lợi cho việc làm nhà ở (quy hoạch đô thị hay công sở…) hay đặt mộ phần so với với địa điểm khác.
2/ Địa điểm tốt lành chỉ có thể căn cứ vào nguyên tắc phong thủy thông qua khảo sát địa điểm ấy mà lựa chọn.
3/ Khi đã tìm được địa điểm như thế (theo phong thủy), người sống và người được mai táng ở địa điểm ấy thì con cháu hay công việc sản xuất – kinh doanh có được hưởng sự tốt lành do địa điểm ấy mang lại không.
Gộp 3 điểm trên lại, người xưa (Tổ tiên ta) tạo ra một nền kiến trúc hợp lý, lâu bền trong đó có cả đền, đài, lăng tẩm cổ, cung điện, biệt thự khiến cho người Châu Âu, Châu Á… phải thán phục.
Trong lý luận phong thủy cổ xưa mang tính:
- Vừa cô đọng
- Vừa mơ hồ, khó hiểu.
Bản thân hiện tượng phong thủy là một phương thức tư duy có tính truyền thống đặc thù. Truyền thống đặc thù quan hệ tới vũ trụ, đối ứng giữa con người với vạn vật xung quanh, với tập tục và luật pháp hiện hành của chế độ mà chúng ta đang sống.
Qua tìm hiểu trên, thái độ tiếp cận với Địa lý phong thủy, thấy nhiều điều hợp lý, cho nên nó còn tồn tại mấy nghìn năm, tới ngày nay vẫn còn được phổ biến và chú ý hơn.
Đánh giá bước đầu phong thủy không phải là không có tác dụng tốt đối với đời sống cộng đồng dân cư, một dòng họ. Phong thủy chỉ là một phương pháp hỗ trợ, giúp cải thiện, khắc phục điều xấu, chứ không thể thay đổi hoàn toàn mệnh và vận của một con người.
Phong thủy chiêm đoán hình thể đất đai là “Tầm long tróc mạch” hoặc “Tầm long vọng thế”. “Tầm long” tức là tìm ra được tổ sơn, “Tróc mạch” tức là kiến lập được thứ tự mạch lạc trong thế núi tự nhiên. Do thế núi có địa hình thiên biến vạn hóa nên phải “Tầm” và “Tróc” mới nắm được thứ tự mạch lạc của long mạch.
Thuật phong thủy cho rằng “Núi” và “Nước” kết hợp lại mà cấu thành “huyệt”.
Căn cứ vào các nhận định và đánh giá của các nhà khoa học Việt Nam và trên thế giới, ta thấy nếu áp dụng phong thủy trong quy hoạch và kiến trúc nhà cửa là hợp khoa học, tạo tâm lý tốt cho chủ nhà, tôi xin cung cấp một tài liệu về phong thủy – để các nhà khoa học đọc và tự rút ra bài học cho mình.
Cổ nhân tổng kết môn địa lý phong thủy đại ý như sau:
Từng nghĩ rằng sự kỳ diệu của Địa lý là Trời Đất dành để đãi người có đức, cũng là điều các thầy giữ kín, không công khai. Nếu làm sai yếu chỉ thì mọi công việc đều sai. Nếu nắm được bí quyết thì nơi nơi đúng đường. Đầu tiên phải biết phép “Tầm long”, sau đó phải nắm được tình hình kết phát, rồi hiểu rõ phương pháp điểm huyệt. Tiếp đó xem được về đất và nước. Quanh co, cung thẳng là có sự biến hóa, lên xuống gập gềnh có chuẩn mực về độ số. Xuất thân cao quý thì vai nở, mặt mở ra. Mạch lạch thì e sợ lộ gân mà hiện cốt. Hòa mục đoan nghiêm mới hành đại khí. Lệch vẹo cứng thẳng là đổ hình suông. Thế hoài thai ở chỗ ôm chứa. Có tinh có thần xen vào mà đột khởi. Âm dương động tình 2 mặt có quý ở chỗ phải đều cả hai. Hư, thực, cương, nhu các chỗ cần phải hỗ trợ nhau. Nếu không biết về con hãy xem ở cha, muốn biết chủ hãy xem ở đầy tớ. Nếu được cả tiền hô hậu ủng thì nhất định là con nối dõi quý giá. Nếu nằm lệch về phía trước hay sau thì chỉ là đầy tớ cho người. Nếu có dây trói buộc là cái thế phải vùng vẫy không yên. Nếu có sự vây quanh bảo vệ là có tình thế đầu hàng và cúi đầu. Từng bước, từng bước truy tầm tìm đến cục hạng nhất mới có thể dừng lại. Xem cho tỷ mỉ kĩ càng thấy có chút gì biến đổi lại phải tìm. Từ trước mặt có gò, rời rạc theo tới thì xem nó kết hợp thành các chòm sao là quý, nếu chỉ là một con đường hướng tới thì lấy sự đứt đoạn là tân kỳ. Tư thế hình thái cương cường thì  phía chân quý ở chỗ bẫy ra sập quỳ nối tiếp Khánh Lọng Nghênh Chầu, bản thân non bấy thì phía hậu đầu không ngại, thô đầy hùng vĩ. Việc kết phát sắp thành thì thân chuyển trước, nếu chân long trú tại đó thì thế ắt là đua về phía trước. Phải để tâm mà quan sát, nắm lấy chân thực, phóng rộng tầm nhìn để xem tình thế. Dưới núi mà hình thành “linh để” đoán rằng có kết ắt không sai. Khoảng ngang lưng mà có thủy tinh, nhất định là rồng đi chẳng xa, núi phía trước nếp tạp loạn, cần lấy sự dời đổi và thay hình. Dáng bái phục ở mặt tiền, thì ắt nhà vua tức vị lên ngôi báu, hoặc Thanh long đến cục mà đua kiểu chắn ngang ngược lại, có lúc đột nhiên như vì tránh né mà đi lệch đi xiên. Toàn thể của nó không hồi lại, tuy khéo léo làm đẹp có vẻ đoan nghiêm, nhưng cũng chỉ là giả. Dãy đồi núi vây quanh ôm lấy, và nhòm vào tức đó là hình dạng kỳ quái mà cùng chân thực. Nếu như thấy 4 mặt vây bức tù hãm, sẽ hứa hẹn có một lối thông thoát bế tắc. Không nói tất cả mọi người đều tốt, chỉ cần biết một điểm là phá ra, ngoài ra là không cần.
Một dòng nước xuyên qua vai thì không cần để mắt. Đỉnh đầu thì tà, mà chân thì mắc kẹt thì bất tất phải lưu tâm. Hai bên sâu mà vách núi thủng ra, thì long hổ ngay ngắn cũng không phải là chân kết. Hợp tác các dòng nước thành mỏ, nếu tốt cũng chỉ là không hạn. Đầu vào tuy mơ hồ, nếu có hình tượng sao, nhưng vô dụng. Hướng Huyền Vũ không nhìn tới, dù có hí mạch, long mạch quý nhất là bằng phẳng, vai và lưng phải tròn đầy. Mạch đi qua là tính mệnh của lai long, phòng hộ nên chu đáo. Chỗ cổ thắt là then chốt căn bản của huyệt. Nếu có xuyên qua thì đừng nói là đầu tốt hay mặt tốt. Nên xét kỹ thực tế, chớ nói là không dấu vết. Tất cần phải xem mạch lạc, ở trên huyệt xem qua các vòng tròn phân kim. Ở dưới huyệt thì xem các vành môi lớp đất. Bên cạnh huyệt thì xem sừng và tai nó mở ra. Dưới chân huyệt thì xem nước tụ dù chỉ là hơi ướt. Phía sau thì lấy chỗ thắt bó kết lại làm đích. Phía trước lấy đáy làm chân thực. Bên trong lấy hình quả tròn, có gờ môi là chỗ dựa. Bên ngoài lấy tâm của 10 đường (thiên tâm thập đạo) làm chuẩn. Chính diện thì khó có đường thiên (đường thiên là đường đến nghĩa địa hay là ruộng dọc).
Cần phải hướng theo góc. Đỉnh lưng không hóa bên dưới cần tìm. Trăm chết tìm lấy một sống (ách tử thủ kỳ nhất sinh). Mọi người đều đi tìm cái độc đáo kỳ dị. Rối loạn khủng khiếp thì thần tàng ở trong tướng mạo. Thấp thoáng lộ ra, khí tạo ở trong lớp da. Như ẩn, như hiện thì nghiệm rằng có sinh khí tiềm tàng. Có dây có góc thì biết được tinh thần mở mặt. Bên dày bên mỏng mới là linh cơ. Bên ngắn bên dài mới là “diệu đê”. Vô luận là hình oa, hình kiếm, nhũ đột, huyệt kết nhất định có dụng thần. Mặc cho đất bằng hay núi cao, đến huyệt không lìa khí hóa. Rút lại về thế cần linh thiêng, về long nên có biến. Về bãi gò nên ôm lấy, về nước nên chầu. Tham nhiều thì nên biết chỗ tinh vi; muốn điều khiển nơi xa thì nên trước phải biết chỗ gần. Kim ngưu không phù hợp thì uổng phí cả chín đoạn triều. Chỗ gối, chỗ nách không nhìn tinh thì lãng phí cả van sơn dâng tạo vẻ đẹp. Sao long hổ có thể bị khuyết, tối kỵ là khí ở minh đường, không thu lại. Xét tình ý ở nơi diện mục, phân biệt thực giả căn cứ ở nơi thực chất. Như thế thì “sa” của ta thì xem trước mặt, lúc nào mà chẳng “hồi cô”. Quả định cục của ta, dưới chân ắt là huyệt oa hình.
Bổ được chỗ khuyết, điển lập được chỗ trống thì sánh được 100, dòng chảy như sối tóc ra thì muôn nhánh đều như không. Cong, thẳng, ngắn, dài, nơi nơi đều cần trúng vào đốt mắt. Cao, thâp, lớn, nhỏ cốt sao chon lấy cho hợp nghi. Điểm huyệt đúng như định thiên tâm, không thể dịch đi một tấc. Cân nhắc nông, sâu sao có thể đang ở chỗ đúng lại tìm chỗ sai. Không ai lại từ chỗ trống, không có bột mà gột nên hồ. Người đọc sách quý ở chỗ Tâm thần lĩnh hội. Kẻ tìm đất, quý ở chỗ mắt khéo nhìn và tâm linh cảm. Thuộc được thiên này, trong lòng đã có thành tựu, nắm được bí quyết, diệu dụng vô cùng. Những ý nghĩa tốt đẹp của đỉnh cao đều tóm gon vào đây. Biến hóa thần minh, được bảo tồn nhờ học giả.
*
*     *
Nói đến quy hoạch của một thành phố hay một làng xã ta nên chú ý đến cả dương cơ và âm phần vì có hỗ trợ nhau, ta bắt đầu từ:
- Vị trí đặt trụ sở Cơ quan lãnh đạo.
- Vị trí các trường học trọng điểm, Viện nghiên cứu (nếu có).
- Quy hoạch đường phố giao thông (bến tàu, sân bay, bến ô tô, nhà ga…).
- Vị trí xây bệnh viện.
- Vị trí các chợ hoặc siêu thị.
- Chú ý một số đình, chùa linh thiêng điển hình của địa phương.
- Vị trí đặt nghĩa trang tập trung của thành phố - huyện.
- Vị trí thu gom chất thải của cả khu vực.
- Khơi và nạo vét sông, hồ, trồng thêm cây cối…
- Vị trí công viên và khu vui chơi giải trí.
- Vị trí khu công nghiệp.
Quan tâm cân nhắc các lĩnh vực nêu trên tạo quy hoạch hợp lý – khoa học lâu bền, đáp ứng tâm lý và tâm linh. Âm dương cân bằng hòa hợp thì thuận lợi nhiều cho mọi người và xã hội.
Ở Thủ đô Hà Nội nếu nhìn khu vực vị trí xây lăng Hồ Chủ Tịch, khu nhà làm việc của Chính phủ và quẩn thể Lăng Bác Hồ được đặt ở vị trí tuyệt đẹp có Nghênh, có Tống, thế Phì Hậu có Liên Hoa Bát Tọa – Minh đường thoáng đãng – Long hùng dũng – Hổ quy phục, chầu – triều về lăng Hồ Chủ Tịch.
Người làm quy hoạch và người duyệt chọn vị trí để đặt Lăng là một người am tường sâu sắc thuật Phong Thủy và là nhà quy hoạch đại tài, ta hãy sơ qua theo các nhìn của người quy hoạch theo mặt bàng. Theo thế Tả Thủy – Hữu mộc – Hậu đầu cao đầy.
a/ Minh đường rộng lớn, thoáng đãng, tụ khí, Phong thủy đánh giá khu vực này an, nền, linh thiêng.
b/ Tả Thủy: Thanh long của khu vực này có 4 sông hồ: Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ ở vườn Bách Thảo và sông Hồng thế Thông Trì – biểu thị sự giàu có của đát nước không bao giờ hết (tri thức, lòng nhân hậu, tài nguyên…).
c/ Hữu mộc: Bạch hổ và vườn hoa Canh nông cũ xa xa là Văn Miếu, xa một chút nữa là công Viên Thống Nhất – thế Hổ Triều đẩu, Đê phục là xuất ngoại nhiều, có học vấn, phát triển…
Nếu được nên chỉnh lại một chút cho hoàn hảo. Trước lăng Bác nhìn thẳng hướng Đông Nam khoảng 80o – Trụ sở Bộ Ngoại giao hiện nay nên mở cổng chính – tạo thế quần tụ với Văn phòng Quốc hội và Bộ Ngoại giao nhìn về phía vườn hồng – Tường thành khu Hoàng Diệu nên trang trí cho đẹp – hài hòa, nếu nhìn từ Lăng Hồ Chủ Tịch ra – tạo thế “Nhất hô bà ứng”.
Cửa chính của Văn phòng Chính phủ nên mở nhìn về hướng Hồ Tây,và giải phóng mấy nhà bên đường vì thế có tạp, loạn, xích khẩu, nên chuyển tượng Lý Tự Trọng đi nơi khác tạo phía trước thành một vườn hoa. Đắp gò đất, có Đỉnh ngưỡng Thiên – tạo thế hài hòa.
Nếu Minh đường độc lập, Nhà nước tự chủ hơn, phát huy nhiều tài năng và trí tuệ của các Công Bộc cấp cao của Chính Phủ.
Hậu đầu là chùa Một Cột có 11 bậc lên xuống – dáng bông hoa sen vươn lên trời cao thanh tú thơm ngát làm nền “Danh thơm bốn biển” “Lừng lẫy năm châu”.
Nên nạo vét mấy sông, hồ nước ở vườn Bách Thảo, quản lý xung quanh và bổ sung giống cây mới tạo sinh khí sẽ tốt hơn cho khu vực này, tạo bộ mặt mới ở phía Tây.
Vị trí quần thể Lăng Hồ Chủ tịch, Văn phòng Chính Phủ và Phủ Chủ tịch còn được Lục Phù ủng – Hộ Quốc Vạn Xuân.
Theo thuyết phong thủy khu vực nêu ở trên là thế Liên – Hoa – Bảo – ĐàiTứ Thủy dưỡng Thanh Long. Còn có Lục Thần Phù ủng. Vị trí khu vực Lăng Bác Hồ và khu lân cận đã quy hoạch, chỉ cần chỉnh một chút để được Thế quần tụ, hài hòa, thuận cho sự phát triển, sáng tạo. Chắc rằng ta sẽ được:
Quốc Thái – Bình Cường
Nội An – Ngoại Tĩnh
như mong muốn của Tổ tiên nước Việt ngàn xưa cũng là mong muốn của nhân dân – của Đảng ở thế ký 21 này. Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm thành lập Thành Thăng Long – Thủ đô Hà Nội. Thật là khu vực đắc địa vào bậc nhất của nước Việt Nam.
Trong bài phát biểu này tôi tin chắc còn nhiều khiếm khuyết, thành thật xin được các vị đại biểu, các nhà kiến trúc chỉ giáo./.

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Loài người sẽ trở nên bất tử vào năm 2045

Tương lai của loài người sẽ thay đổi rất bất ngờ với sự phát triển của công nghệ sinh học và công nghệ nano. Mỗi người là sản phẩm kết hợp của mình với những linh kiện điện tử và ranh giới giữa thế giới ảo và thật không còn.
Khẳng định của một nhà tương lai học Mỹ
Năm 2045 loài người có thể tiến sát tới sự bất tử thật sự. Đó là điều khẳng định của nhà tương lai học nổi tiếng, chuyên gia hàng đầu về đổi mới công nghệ của Mỹ là Raymond Kursweil trong một bài báo đăng trên Tạp chí Time. Ông cho rằng, vào thời điểm ấy, con người sẽ ở dưới dạng cùng tồn tại với máy móc và cái chết trở thành không đáng sợ. Ông mô tả từ nay đến giữa thế kỷ 21 thế giới sẽ như sau:
Tôi cho rằng, trong vòng 20 năm nữa, người ta sẽ đưa vào máu của mình hàng nghìn con nanorobot điều khiển bằng máy tính để theo dõi sức khoẻ của chúng ta, làm tăng năng suất lao động, khả năng tư duy và tạo ra những phiên bản dự trữ tất cả những gì nằm trong bộ não chẳng khác gì bạn lưu trữ các file của máy tính”.
Điều này có nghĩa là có thể lưu lại được từng ý nghĩ của chúng ta, toàn bộ trải nghiệm của chúng ta…tóm lại, tất cả những gì làm nên một cá nhân đã từng tồn tại. Trí tuệ và cơ thể của một người có thể “cất vào” một chiếc máy của mỗi người và biến chiếc máy thành một ‘supercyborg’ (sinh vật viễn tưởng với “phụ tùng” là các linh kiện cơ học và điện tử)”.


Robotnano hoạt động trong cơ thể người. Ảnh minh họa.
Ý tưởng này của Kursweil dược nhiều người hưởng ứng. Thực ra nó đã được đề xuất khoảng 50 năm về trước. Lúc đó, nhà thống kê người Anh Irving John Hood đã nêu ra luận điểm rằng đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện chiếc máy “siêu thông minh”, tiếp theo đó là hiện tượng “bùng nổ trí tuệ” và người ta cảm thấy đầu óc của con người thua kém rất xa các chiếc máy do chính họ tạo nên…
Như vậy, chiếc máy siêu thông minh đầu tiên sẽ trở thành phát minh cuối cùng mà con người sáng chế, rồi chính chiếc máy đó đủ khôn ngoan để điều khiển chúng ta, đặt chúng ta dưới sự khống chế của chúng.
Hiện nay, Kursweil phát triển thuyết của Hood và tìm mọi cách đưa vào cuộc sống. Ông là người ủng hộ nhiệt thành nhất công nghệ sinh học và công nghệ nano, là những ngành công nghệ cho phép con người điều khiển cơ thể của minh và môi trường xung quanh ở mức độ phân tử.
Internet sẽ biến đổi ra sao
Theo Kursweil, internet tạo ra một môi trường ảo, tác động lên mọi giác quan của chúng ta, khiến chúng ta không phân biệt rõ ràng giữa con người thật và “phiên bản điện tử” của mình.
Vào một ngày đẹp trời nào đó - nhà khoa học tiên đoán - chiếc màn hình nhỏ xíu gắn trên đôi mắt kính sẽ giúp ta chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và chúng ta có thể hiểu được bất kỳ tiếng nước ngoài qua những dòng phụ đề hiện ra và chỉ việc đọc.
Nhờ hệ thống chiếu hình trên võng mạc sẽ xuất hiện môi trường ảo thay vì thực tế. Điều khiển bằng những lệnh miệng hoặc bấm nút, bạn có thể đi lại và hoạt động trong môi trường này. Vào một trang web có nghĩa là bạn đã lang thang trong rừng, du ngoạn trên bãi biển hoặc bước vào một gian phòng để tham gia một Hội nghị của thực tế ảo.
Trí não sẽ thay đổi ra sao
Rất nhiều robotnano cài đặt sẵn các nhiệm vụ khác nhau sẽ được bơm vào cơ thể bạn, tại đó chúng sẽ chuyển đến các mao mạch não và tương tác với các nơron sinh học. Khi tương tác với các chất dẫn truyền thông tin của não, nó sẽ xoá đi những đường biên hạn chế khả năng tư duy của con người.
Những nanorobot đông đúc ấy sẽ khu trú trong não, mở rộng bộ nhớ của chúng ta, hình thành hàng tỷ mối liên kết mới, làm tăng gấpbội khả nảng cảm nhận, khả năng suy luận logic và khả năng nhận thức.
Nаnorobot có thể được lập trình để bảo đảm các phần mềm của mạng, thay đổi cấu hình của nó, khi cần thiết dễ dàng loại bỏ ra khỏi có thể.
Còn Trái đất thì sao?
Кursweil tiên đoán thời điểm xảy ra “điểm kỳ dị công nghệ” kiểu như điểm kỳ dị trong thuyết Bigbang - là điểm làm thay đổi cơ bản một quá trình tiến hoá - sẽ xảy ra vào năm 2045. Kết quả của nó là: Trái đất biến thành một chiếc máy tính khổng lồ và dần dần, quá trình nay sẽ lan ra toàn vũ trụ.

Một số giả thiết khoa học làm sáng tỏ hơn về thế giới tâm linh

Thế giới tâm linh là một thế giới ở bên kia, thế giới ở đằng sau cái chết, thế giới của các linh hồn, thế giới của thần linh và ma quỷ....
Sự nhìn nhận khác nhau về thế giới tâm linh
Cách hiểu thông thường
Sự hiểu biết và nhìn nhận của mỗi người về thế giới tâm linh thì khác nhau. Người không có đầu óc khoa học nghĩ về thế giới tâm linh là một thế giới gắn liền với ma quỷ và thần linh. Ma quỷ, thần linh có thể phù hộ và có thể hại con người, và sống ở không gian khác đan xen vào thế giới mà chúng ta sống. Những người như vậy khi thắp hương cúng tổ tiên là vì họ nghĩ rằng tổ tiên sẽ phù hộ. Hành động thắp hương của người này được xem là hành vi tín ngưỡng tôn giáo.
Cách hiểu khoa học
Những người được coi là có đầu óc khoa học nhìn nhận thế giới tâm linh đó về bản chất vẫn là thế giới của chúng ta đang sống. Người ta cho rằng không có ma quỷ thần linh. Những người như vậy khi thắp hương cúng tổ tiên là vì họ coi đó là một truyền thống, là một nét văn hóa để tưởng nhớ đến tổ tiên mà không hi vọng gì tổ tiên phù hộ cho mình. Hành vi của người này được xem là một hành vi văn hóa (tôn giáo chỉ là một phần của văn hóa).
Tại sao lại có sự hiểu biết rất khác nhau về thế giới tâm linh của hai đối tượng đó?
Lý giải một số nghi vấn
Lý do vì khoa học về lĩnh vực này chưa phát triển đến mức có thể hiểu biết về nó, giải thích về nó và phổ biến về nó rộng rãi cho người dân hiểu. Tại sao khoa học trên lĩnh vực này chưa phát triển, thì cũng có lý do của nó.
Thế giới vật chất gồm những vật thể sống và những vật thể không chứa đựng sự sống. Các hiện tượng điện, từ, cơ, nhiệt... có thể tạo ra một cách dễ dàng phải chăng đó là một nguyên nhân dẫn đến thành tựu khoa học dựa trên việc nghiên cứu về các hiện tượng này phát triển như vũ bão trong những thập niên gần đây. Người ta có thể tạo ra và thu sóng vô tuyến, tia laze; người ta có thể tạo ra vật liệu mới, tạo ra phản ứng hạt nhân... Từ đó có thể chế tạo ra điện thoại, máy vi tính, vật liệu mới, tàu vũ trụ... Như thế thành tựu khoa học trên lĩnh vực liên quan đến sự vật hiện tượng không chứa đựng sự sống là rất đáng kinh ngạc.
Quá trình tiến hóa từ các vật vô cơ đến cơ thể sống như ngày nay trải qua hàng nhiều triệu năm, và trong các điều kiện thuận lợi nhất định. Việc tạo ra một tế bào từ các nguyên tố hóa học là một việc làm vô cùng khó khăn, và hiện nay là chưa làm được. Việc chưa chế tạo được một cơ thể sống từ những vật chất vô cơ, chưa tạo ra được vật chất có ý thức từ thế giới vô cơ phải chăng là nguyên nhân dẫn đến khoa học chưa hiểu biết về thế giới tâm linh. Chưa hiểu biết về trường sinh học? Cơ quan phát, nơi lưu trữ thông tin của trường sinh học, cơ chế phát thu sóng sinh học?
Kiến giải khoa học
Về hiện tượng xem bói của các nhà ngoại cảm chẳng hạn. Tạm giả thiết rằng những gì con người đã trải qua thông tin về nó sẽ được lưu giữ ở đâu đó trên bộ phận của con người (cơ chế phát thông tin và lưu trữ thông tin ở đâu hiện nay khoa học chưa chỉ rõ được) gặp những người có khả năng đặc biệt gọi là các nhà ngoại cảm người ta có thể đọc lại được thông tin trong quá khứ đó.
Vì họ biết những vấn đề trong quá khứ, nhà ngoại cảm nói một số chuyện trong tương là người dân cũng tin vì người ta nghĩ rằng quá khứ mà đúng thì tương lai sẽ đúng. Nhưng thực tế là người ta không thể nói đúng được ngày mai bạn nhất định sẽ làm gì? Nếu họ bảo ngày mai nhất định bạn đi chợ thì bạn chỉ cần cố tình không đi chợ là lời nói của nhà ngoại cảm đó sẽ sai. Có nghĩa là sự thể hiện của con người như thế nào trong tương lai các nhà ngoại cảm cũng không thể biết được.
Khi học về thuyết tương đối của Anhxtanh, ta thấy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả. Sóng sinh học chưa phát thì không thể tiếp nhận được sóng sinh học. Đó là lý do các nhà ngoại cảm không biết trước được tương lai.
Nhà ngoại cảm làm thế nào có thể tìm được mộ của người đã chết giải thích hiện tượng này như thế nào? Tạm hiểu vấn đề thông qua sự so sánh sau. Lửa nhờ củi mà cháy khi củi hết thì lửa tắt, lửa có thể phát ra hơi ấm (cùng tia hồng ngoại của ngọn lửa đó), khi lửa tắt đi rồi nhưng ngay sau đó thì hơi ấm vẫn còn (và vẫn còn phát ra tia hồng ngoại của hơi ấm đó sau một thời gian nhất định). Để lâu đống củi sẽ hết hơi ấm. Khi sinh lực còn thì người còn sống, khi sinh lực hết thì người chết. Người sống có thể phát ra thông tin (sóng sinh học), có ý thức.
Khi người đó chết thì ý thức vẫn còn (ý thức được tạo ra từ khi còn sống nhưng không phát triển thêm), và sóng sinh học vẫn còn vẫn lưu trữ trong xương cốt (hay đâu đó). Trong sự so sánh trên thì sinh lực ví như củi; mạng sống ví như lửa; ý thức ví như hơi ấm, sóng sinh học ví như tia hồng ngoại. Để lâu hơi ấm bị mất do đó để lâu thì những cơ quan bộ phận lưu trữ thông tin dưới dạng sóng sinh học cũng sẽ mất đi. Trong khi tìm hiểu về sóng vô tuyến ta biết nguồn thu bắt sóng được nguồn phát khi hai nguồn phải cùng tần số. Ta giả thiết trong việc cảm nhận sóng sinh học cũng có một số điều kiện nhất định.
Ý thức được tạo ra từ khi còn sống khi chết (ý thức đó vẫn còn dư khí của cái sống) mà không thể phát triển thêm. Ví dụ ông bà chết rồi mười năm sau người cháu mới đẻ ra chắt. Tôi cho rằng cái gọi là linh hồn người chết đó chỉ biết được những việc khi mà người ấy còn sống chứ không biết được những việc đã xảy ra và sẽ xảy ra.
Một số kết luận
Thế giới gồm những vật thể có sự sống và những vật thể không có sự sống. Vật thể có sự sống thì có cảm nhận, vật thể không có sự sống thì không có cảm nhận. Vật thể có sự sống và vật thể không có sự sống, tương tác, trao đổi với nhau về năng lượng, về chất...
Có một dạng năng lượng gọi là năng lượng sống, năng lượng này tạo ra từ các vật thể sống. Khi cơ thể sống chết đi thì năng lượng sống cũng sẽ mất dần. Giống như lửa đã tắt nhưng hơi ấm thì vẫn còn lại trong một thời gian.
Năng lượng sống đó cũng có những tính chất chung giống năng lượng thông thường và nó có thể chuyển hóa cho nhau.
Mọi hiện tượng tâm linh tạo ra từ nguồn năng lượng sống. Khi người ta chết thì năng lượng chuyển hóa dần do đó không có linh hồn bất tử. Năng lượng sống khi người ta còn sống lớn hơn năng lượng sống khi người ấy chết đi do đó xét về mặt năng lượng sống thì người sống ảnh hưởng đến người sống nhiều hơn năng lượng sống của người đã chết ảnh hưởng đến người sống.
Tâm linh chỉ được coi là một hiện tượng giống như hiện tượng điện trường, từ trường....chứ không được coi là thế giới.
Đối tượng của nghiên cứu chính của các hiện tượng điện trường, từ trường... là vật chất không có sự sống. Đối tượng của nghiên cứu các hiện tượng tâm linh là vật chất có sự sống.
Hiện tượng tâm linh cũng phải tuân theo quy luật nguyên nhân có trước kết quả có sau. Bất cứ nhà ngoại cảm hay linh hồn, viên đá thạch anh.... cũng không thể biết được thông tin mà thông tin đó tương lai mới phát ra.
Sự khác biệt của hiện tượng sóng vật lý và sóng sự sống là do cơ chế tạo ra, lưu trữ thông tin, phát thông tin, thu thông tin... khác nhau.
Hiện nay khoa học trên lĩnh vực này chưa phát triển để có khả năng thu nhận và xử lý thông tin sự sống, thông tin ý thức.
Cái thế giới gọi là thế giới tâm linh không phải là thế giới của ma quỷ thần linh, thế giới đó chỉ là bộ phận của thế giới vật chất mà chúng ta đang sống, nói đúng hơn nó chỉ là hiện tượng vật chất phát ra từ vật chất sống.
Tổng quát mà nói mọi thế giới đều là một thế giới, chỉ có một thế giới vật chất mà chúng ta đang sống. Các hiện tượng bí ẩn không phải là hiện tượng ma quỷ, thần linh mà chỉ là hiện tượng vật chất.
Kết luận của chủ Nghĩa Mác-Lênin vẫn giữ nguyên giá trị: Không có lực lượng siêu nhiên nào tác động ảnh hưởng hay quyết định đến thế giới của chúng ta. Thế giới tâm linh chỉ là một hiện tượng vật chất do những vật thể có sự sống phát ra.

Khoa học lý giải Tâm linh như thế nào?

Phóng viên đã có cuộc trò chuyện với GS.VS Đào Vọng Đức, nguyên viện trưởng Viện Vật lý, nguyên giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người về Khoa học và Tâm linh.
Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau
Ông là một nhà khoa học rất tâm huyết trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về tâm linh. Ông nghĩ sao về sự tương tác giữa khoa học và tâm linh?
Thế kỷ XX, vật lí học hân hoan chào đón sự ra đời của Thuyết tương đối và Thuyết lượng tử. Thế kỷ XXI, theo như tiên đoán của nhiều học giả nổi tiếng, sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là sự nhận thức được rằng, Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau. Nó là hai mặt đối ngẫu bổ sung cho nhau để nghiên cứu thực tại. Pauli, nhà vật lí nguyên tử lừng danh của thế kỷ XX đã nhận định rằng: "Nếu Vật lý và Tâm linh được xem như các mặt bổ sung cho nhau của thực tại thì sẽ cực kỳ thỏa mãn".
Nhưng có một thực tế, là những gì không lý giải được, những gì hư hư, thực thực, thậm chí vô lí thì một số người cho rằng: Phật bảo thế, Thánh bảo thế...
Einstein đã nói lên quan điểm về sự tương đồng giữa Khoa học hiện đại và Phật giáo. Có thể dẫn ra một ví dụ minh họa như sau: Tiên đề của thuyết lượng tử là "Nguyên lý bổ sung đối ngẫu" khẳng định rằng, Sóng và Hạt là hai mặt bổ sung cho nhau của thực tại. Nguyên lí này dẫn đến một hệ quả cực kỳ quan trọng là vật thể vi mô chuyển động không theo bất cứ một quỹ đạo xác định nào, có nghĩa là chuyển từ vị trí này sang vị trí khác theo vô số con đường cùng một lúc.

Suy rộng ra là vật thể vi mô có thể cùng một lúc có mặt tại vô số vị trí khác nhau, cùng một lúc có thể ở vô số trạng thái khác nhau, cùng một lúc có thể làm vô số việc khác nhau. Điều này gợi cho ta liên tưởng tới Kinh Phật nói về các đức Phật, các chư vị Bồ tát phân thân ra trăm nghìn vạn ức hóa thân đi khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, giáo hóa cứu độ chúng sinh.


GS VS ĐÀo Vọng Đức

Cần sự hỗ trợ của "trực ngộ chân như"
Dù ông có chứng minh thế nào đi chăng nữa thì rõ ràng cho đến nay vẫn còn rất nhiều điều điều bí ẩn mà khoa học chưa giải thích được?
Khi nghiên cứu các lĩnh vực với mức độ tinh tế khác nhau thì cách tiếp cận phải khác nhau. Đặc biệt với các hiện tượng siêu tinh tế thì đòi hỏi phải vận dụng các khái niệm và các hệ tiên đề hoàn toàn mới, có thể rất xa lạ với những điều đã quen thuộc trước đó. Chẳng hạn, có thể còn có các dạng siêu tương tác ứng với các dạng siêu năng lượng, liên quan đến các hiện tượng siêu tự nhiên mà các giác quan bình thường của con người không thể cảm nhận được, cũng như khoa học và kỹ thuật hiện nay chưa đủ trình độ để phát hiện.
Đặc biệt, trong thế giới vi mô, khi mọi quan hệ tương tác đều được vận hành bởi các quy luật lượng tử, nguyên lí đối ngẫu càng thể hiện rõ nét là một nguyên lí nền tảng dẫn đến những điều huyền diệu, nhiều khi khó diễn đạt được tường tận bằng ngôn ngữ của lập luận logic thông thường, mà cần sự hỗ trợ của yếu tố "trực ngộ chân như" (giác ngộ).
Các hoạt động tâm linh hiện nay chưa được số đông ủng hộ. Phải chăng đó là vì bản thân vấn đề tâm linh chưa tự chứng minh được sự trong sáng, mặt tích cực, lợi ích cho đời sống xã hội?
Trong những thập niên gần đây, ngày càng dồn dập thông tin về những khả năng đặc biệt của con người, những hiện tượng kỳ bí mang tính tâm linh thể hiện rất đa dạng trong đời sống cộng đồng trong nước cũng như trên thế giới. Tiếp cận những vấn đề này một cách khách quan với thái độ thực sự cầu thị, tôn trọng sự thật, khiêm tốn học hỏi để khám phá, nhằm mục đích tối thượng phục vụ lợi ích cộng đồng là điều tâm đắc của nhiều người. Bên cạnh đó, cũng có những hiện tượng tiêu cực dẫn đến những hệ quả không tốt, làm hại đến uy tín của những người hoạt động chân chính.
Vậy theo ông có cách nào để kìm chế được mặt tiêu cực đó?
Ngoài việc tăng cường quản lý Nhà nước, việc làm sáng tỏ về mặt khoa học các hiện tượng mang tính tâm linh cũng là một đóng góp rất hữu hiệu.
Ông có tin vào số phận không, thưa ông?
Về mặt lí thuyết chưa ai chứng minh được là có hoặc không có số phận. Ở đây, tùy thuộc vào lòng tin và sự trải nghiệm của mỗi người.
Tôi rất tâm đắc với câu của nhà bác học vĩ đại Einstein khi ông này khẳng định rằng: "Khoa học, Tôn giáo, Nghệ thuật là những cành, nhánh của cùng một cây... Khoa học không có Tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo không có Khoa học thì mờ ảo".
Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm rằng, những thành tựu của vật lí học hiện đại rọi những tia sáng mới vào khoa học dự báo. Dự báo liên quan mật thiết đến phạm trù không gian - thời gian. Einstein đã phát biểu rằng: "Quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là những ảo tưởng cố hữu". Schrodinger, tác giả của phương trình cơ bản trong Thuyết lượng tử đã phát biểu: "Muôn đời và mãi mãi chỉ có bây giờ... Hiện tại là cái duy nhất không có kết thúc".
Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác
Theo tôi được biết, ngay trong khoa học cũng có những thứ được chứng minh, nhưng không xuất hiện một cách tường minh?
Tạo hóa đã ban cho vũ trụ chúng ta các dạng tương tác một cách tối ưu bao gồm tương tác mạnh, tương tác yếu, tương tác điện từ và tương tác hấp dẫn. Đó là các loại tương tác cơ bản nhất tạo nên bức tranh của cả vũ trụ chúng ta.


Bất kỳ một loại tương tác nào, một hiện tượng nào dù phức tạp đến mấy, từ vi mô đến vĩ mô cũng đều bắt nguồn từ các loại tương tác đó. Một hướng nghiên cứu có tính thời sự nhất hiện nay là xây dựng Lí thuyết thống nhất, tức là tìm một cơ cấu thiết kế chung gắn kết các loại tương tác với nhau trên cùng một nền tảng và phương hướng được xem là có nhiều triển vọng nhất để xây dựng Lí thuyết thống nhất nói trên chính là Lí thuyết Dây.
Điều đặc biệt là trong lí thuyết Dây nhất thiết phải có các trường "Vong". Các trường "Vong" này giữ vai trò then chốt trong cơ cấu của lí thuyết, chi phối các cơ chế tương tác nhưng không hề xuất hiện một cách tường minh trong thực tế.
Ở góc độ là một nhà khoa học, ông muốn nhắn nhủ điều gì đến cả những người đang làm công tác nghiên cứu tâm linh, những người có khả năng đặc biệt?
Đây là cuộc viễn chinh khoa học gian nan nhưng đầy hứa hẹn, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa Khoa học và Tâm linh, sự đóng góp lâu dài công sức và trí tuệ của các nhà khoa học và các nhà ngoại cảm. Chúng ta có cơ sở để hy vọng rằng, cùng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của khoa học và công nghệ, dần dà sẽ tiếp cận được những hiện tượng mà cho tới nay vẫn được xem là huyền bí hoặc hầu như là phi lý. Chúng ta sẽ có được những phương pháp hữu hiệu và thực hiện những bước tiến theo tinh thần "Phật pháp chỉ đường lìa mê về bến Giác".
Xin trân trọng cảm ơn ông. Mong rằng tất cả những linh hồn, những con người còn u mê sẽ tìm được con đường về bến Giác Thiện. Xin kính chúc ông sức khoẻ!

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

10 hiện tượng bí ẩn trong lịch sử

     10 hiện tượng bí ẩn trong lịch sử mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa giải thích rõ ràng. 


1- Thanh kiếm 2.000 năm tuổi bằng đồng trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng vẫn còn rất sắc bén

Vào năm 1994, một thanh kiếm bằng đồng đã được tìm thấy trong lăng mộ binh mã của Hoàng Đế Tần Thủy Hoàng. Thanh kiếm này có ruột rất dày, nó ngủ sâu trong hoàng thổ tới hơn 2.000 năm, khi mới được khai quật nó vẫn trông như mới và sắc bén vô cùng. Sau khi kiểm tra, người ta nhận thấy lớp bề mặt thanh kiếm có chứa hợp chất muối crôm dày 10 micron, sự phát hiện này ngay lập tức thu hút được sự chú ý của thế giới. Bởi vì phương pháp xử lý quá trình oxy hóa muối crom mới chỉ xuất hiện ở cận đại, vào năm 1937 tại Đức, và Hoa Kỳ vào năm 1950 mới phát minh ra.

2- Một người đàn ông Ấn Độ không ăn uống trong 68 năm
Một người đàn ông Ấn Độ có tên là Prader Jani, đã ròng rã 68 năm mà ông không cần ăn bất cứ thức ăn hay thức uống nào, cũng không phải đi vệ sinh. Jani đã từng ở trong một bệnh viện ở Tây Ấn Độ để quan sát kiểm tra, nhưng sự thần kỳ của ông đã khiến 400 bác sĩ bệnh viện phải cảm thấy bối rối. Theo ông cho biết, lần cuối cùng ông ăn và uống là khi ông 10 tuổi. Kể từ đó, ông thông qua thực hành yoga để duy trì sinh mệnh mình. Các bác sĩ cho biết, mặc dù ông không ăn uống nhưng trong cơ thể ông vẫn có sự hình thành nước tiểu, nhưng vừa hình thành thì bàng quang đã hấp thụ. Hiện nay các nhà khoa học vẫn không thể giải thích nổi hiện tượng này.

3- Quá mầu nhiệm –  nhục thân của Thiền sư Lục Tổ Huệ Năng 1000 năm không bị phân hủy tại Trung Quốc
Đại sư Huệ Năng triều Đường, được coi là bức tượng đầu tiên của vị bồ tát có mang thân xác thịt xuất hiện trong lịch sử của Trung Quốc (cao tăng đắc đạo khiến thân xác thịt không bị hoại), hiện tại bức tượng vẫn còn được đặt thờ ở Chùa Nam Hoa thuộc Thiều Quan Quảng Đông. Bức tượng này không cần phải tiêm chất bảo quản hay niêm phong chân không; Quảng Đông vốn là vùng có khí hậu nóng, môi trường lại ẩm ướt; nếu tính theo lịch đến nay đã được 1.200 năm, vậy mà bức tượng này không hề bị thối hay thay đổi nào cả, không khô héo, vẫn giữ được thần thái thanh thản.
Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, Hồng vệ binh vì để xác thực xem bức tượng Huệ Năng Đại sư có phải là do con người tạo ra hay không, đã dùng búa đập vào ngực của Đại sư, tạo thành một lỗ nhỏ, kết quả rất ngạc nhiên cho thấy các cơ quan nội tạng của vị đại sư vẫn còn nguyên vẹn, lúc đó mọi người tại hiện trường đều trăm phần sợ hãi, vội quỳ gối lạy.

4- Làng  Shivpuri ở Ấn Độ “hòn đá thánh tự lơ lửng trên không”
Trước một đền thờ tại làng Shivpuri, Ấn Độ có 2 hòn đá Thánh, mỗi hòn nặng tầm 450 kg, và chỉ cần có người dùng ngón tay trỏ bên tay phải đặt ở phía dưới của hòn đá thiêng liêng này, và không ngừng đồng thanh hô lớn: “Kumar – Alli – Daer Wei – kỳ – kỳ – kỳ”, thì hòn đá liền như người sống di chuyển bay lên đến độ cao tận 2 mét so với mặt đất. Chỉ cho đến khi họ hô liên tục hết hơi này cho đến hơi khác không dừng mới hạ trở lại mặt đất. Về nguyên nhân có thể khiến nó như vậy, cho đến nay vẫn không một lời giải thích nào đáng tin cậy.

5- Một chiếc máy bay mất tích tại Philippines sau 48 năm xuất hiện trở lại nguyên vẹn như xưa
Năm 1985, một chiếc máy bay hành khách 48 năm trước (nửa thế kỷ) đã bị mất tích khi đang bay từ Philippines hướng về đảo Mindanao, đã được tìm thấy trong vùng đầm lầy ở New Guinea. Điều khiến người ta không thể hiểu nổi, đó là chiếc máy bay trông vẫn mới y hệt như hồi nó bị biến mất. Đồng thời những tờ báo được tìm thấy trong cabin vẫn ghi nguyên vẹn là ngày chủ nhật đầu tiên của tháng 1 năm 1937, cũng như cà phê bên trong phích vẫn còn nóng, hương vị không thay đổi, pin vẫn được sạc đầy… Các nhà điều tra đều cảm thấy đáng sợ mà không giải thích nổi.

6- Bức hình phi hành gia vũ trụ được khắc nổi trong một nhà thờ cổ ở Salamanca, Tây Ban Nha
Tại thành phố Salamanca của Tây Ban Nha trong một nhà thờ cổ có khắc nổi hình tượng một phi hành gia bí ẩn. Nhà thờ lớn Leronimus Cathedral được tu sửa năm 1102. Điều đáng ngạc nhiên ở đây, đó là trên đó có khắc một số mô hình đặc biệt hấp dẫn, trong đó có mô hình một phi hành gia. Mô hình này được chạm khắc rất tinh tế, trên thân mặc bộ quần áo phi hành gia: Lẽ nào cách đây một ngàn năm trước phi hành gia lại có khả năng có bộ quần áo vượt qua đường hầm thời gian và không gian?

7- Bốn ngàn binh sĩ Tây Ban Nha bí ẩn biến mất
Bốn ngàn binh sĩ Tây Ban Nha đã bị mất tích một cách bí ẩn không một dấu vết, nhưng nó lại là sự thật. Nó đã được ghi lại bằng giấy trắng mực đen trong lịch sử quân sự tại các tài liệu chính thức của Tây Ban Nha và các tổ chức có thẩm quyền. Năm 1711, bốn ngàn binh sĩ Tây Ban Nha đóng quân tại trại cùng người dân trên núi. Ngày hôm sau, khi quân tiếp viện tới nơi này thì họ đã thấy toàn bộ đơn vị đóng quân tại đây đã biến mất hoàn toàn. Cảnh sát đã điều tra rất nhiều trong vài tháng, nhưng vẫn không thể tìm thấy bất kỳ manh mối nào. Đây là một vụ mất tích tập thể lớn nhất trên thế giới.

8- Thái Lan: “Thân thể của đứa trẻ đã chết bất hoại”
Tại Thái Lan, một gia đình nhỏ có một cậu con trai khi lên 6 tuổi thì bị chết. Hai vợ chồng liền an táng cho cậu trong tu viện, một điều kỳ lạ đã xảy ra! Kể từ đó cặp vợ chồng này thường xuyên nằm mơ rằng con trai họ nói với họ là không quen với cuộc sống trong tu viện, do đó họ đã đem xác cậu về nhà, và sau đó họ không gặp giấc mơ tương tự như vậy nữa. Trong những năm qua, mặc dù thân xác đã bị mất nước và khô lại, nhưng tóc và móng tay cậu vẫn không ngừng phát triển!

9- Máy bay Mỹ rơi vào “đường hầm thời gian” bí ẩn
Năm 1955, một chuyến bay mang số hiệu 914 cất cánh từ New York hướng về Florida thì đột nhiên bị mất tích, lúc đó nó được nhìn nhận rằng có thể do chiếc máy bay rơi xuống biển. Tuy nhiên sau 35 năm, chuyến bay số hiệu 914 này lại đột nhiên xuất hiện ở Venezuela. Khi những người này trở về nhà ở Hoa Kỳ, họ đã rất ngạc nhiên, con của họ và những người thân yêu cũ đều đã già hết rồi, nhưng họ thì vẫn còn trẻ như năm đó. Điều này đã thực sự đặt ra câu hỏi, liệu có tồn tại đường hầm thời gian không?
(Điều này có khiến cho bạn nghĩ về chuyến bay M370 của hãng hàng không Malaysia không?)

10- Tàu điện ngầm Moscow của Nga biến mất một cách bí ẩn
Một ngày vào năm 1975, tại một ga tàu điện ngầm ở Moscow đã xảy ra một sự biến mất lạ thường. Buổi tối hôm đó vào lúc 21h16’, một tàu điện ngầm từ ga Belarus hướng về ga Bulaisinuo. Chỉ còn 14 phút là tàu ngầm có thể đến ga tiếp theo, nhưng không ngờ trong vòng 14 phút này, chiếc tầu chứa đầy khách này đột nhiên biến mất. Quân đội và toàn bộ các nhân viên quản lý tàu điện ngầm Moscow bắt đầu một cuộc tìm kiếm quy mô lớn. Tuy nhiên, từ đó đến giờ vẫn không tìm thấy bất kỳ hành khách nào cả.