Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

TÍN NGƯỠNG SA - MAN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM...

Bài đăng ở Kỷ yếu HNKH toàn quốc lần 1 tháng 01/2016 về "Nghiên cứu và ứng dụng KNĐB của con người" do Viện NC&ƯD tiềm năng con người chủ trì.

 TÍN NGƯỠNG SA - MAN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
VỚI NHỮNG ĐẶC TRƯNG LIÊN QUAN
ĐẾN KHẢ NĂNG TIỀM ẨN CỦA CON NGƯỜI
(Bài 1)
Phan Đăng Nhật[1]
(GS Phan Đăng Nhật có 2 bài (bài 1 và bài 2); vốn là một được tách ra, nên liên quan chặt chẽ với nhau. Đề nghị độc giả đọc bài 1, trước khi đọc bài 2)
I. Mở đầu-thuật ngữ
1. Tín ngưỡng saman (shamannis)
Có người gọi đây là sa-man giáo. Rành mạch hơn thì nên chỉ rõ đây là tín ngưỡng, chưa phải là tôn giáo, vì vậy, chúng tôi dùng thuật ngữ tín ngưỡng sa-man, hoặc viết tắt là saman.
Thuật ngữ saman có cội nguồn từ người Nga, tộc người Tông-gu (tongouse). Có thể từ này bắt nguồn từ samana, tiếng Pali do ảnh hưởng của Ấn Độ đối với vùng Xibêri. Saman trở thành một thuật ngữ quốc tế, người ta không dịch ra các ngôn ngữ quốc gia.
Nhà khoa học nổi tiếng thế giới về saman, Mircéa  Eliade, đã đưa ra những thuộc tính của sa man. Ông rất nhấn mạnh đặc điểm của cơ chế kỹ thuật  saman là “extase” nghĩa là “xuất thần - nhập hoá”. Ông coi đây là thuộc tính cơ bản nhất của saman chỉ cần nó đủ cho một định nghĩa: “Định nghĩa đầu tiên của hiện tượng phức hợp này và có lẽ  là định nghĩa ít mạo hiểm là: Tín ngưỡng saman = kỹ thuật xuất thần - nhập hoá”[1]. Extase trong tiếng Pháp còn có nghĩa là “thần trí hôn mê”, hoặc “ngây ngất”. Theo định nghĩa của Mircea, hai nghĩa vừa nêu không thật sát hợp với kỹ thuật của sa man. Ông nhấn mạnh sự khác biệt cơ chế xuất thần nhập hoá của saman là, linh hồn của người xuất thần rời bỏ thể xác để đi lên trời hoặc xuống địa ngục: “Người ta không thể so sánh bất kỳ một người xuất thần - nhập hoá nào với một saman; ông ta là nhà chuyên nghiệp nhập đồng, trong đó linh hồn của ông coi như rời bỏ thể xác để thực hiện một cuộc ra đi lên Trời hoặc xuống địa ngục”[1]. Vậy ngây ngất, đê mê là trạng thái bên ngoài, là biểu hiện của mọi thứ say  (say rượu, nha phiến, ma tuý,.. ) không phải là bản chất của hiện tượng xuất thần - nhập hoá của saman.
Cũng theo Mircea Eliade, một điều cần phân biệt nữa là ông/bà saman có quan hệ liên thông với vong linh: “Cũng có một sự phân biệt nữa, nói chung cần thiết xác định mối quan hệ của sa man với vong hồn. Khắp nơi trong thế giới nguyên thuỷ và hiện đại, có những cá nhân tin chắc rằng đã giữ mối quan hệ với vong linh, (theo hai kiểu), hoặc là họ bị nhập (possédé)/bị ám; hoặc là họ làm chủ vong”[1]
Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 3) cũng nhấn mạnh hai đặc điểm của saman là xuất thần- nhập hoá và giao tiếp với vong linh: “Saman giáo (shamanisme) là một loại hình tôn giáo cho rằng, một người nào đó, do bẩm sinh hay sau một thay đổi cơ bản về cơ thể (ốm thập tử nhất sinh) hoặc về tâm lý tinh thần (stress), có khả năng giao tiếp với các siêu linh, các vong hồn bằng cách thoát hồn khỏi xác; hoặc thần thánh, ma quỷ nhập vào mình, để cầu xin một điều gì. Biện pháp của saman giáo là phải tự đưa mình chuyển từ thể trạng bình thường sang thể trạng cuồng loạn, hôn mê bằng tiếng hát, tiếng đàn, hương khói, đặc biệt bằng nhảy múa điên loạn”[1]
Từ điển tôn giáo nhấn mạnh hai đặc điểm của cơ chế saman là xuất thần và giao tiếp với vong hồn: “Thôi miên xuất thần làm cho saman khác hẳn những người tinh thông ma thuật và tôn giáo khác; saman không thể là saman nếu không có cảm giác thôi miên xuất thần, và saman thực hiện tất cả chức năng của mình trong lúc xuất thần. Saman cũng được các hồn ma giúp đỡ và hướng dẫn”[1]
          Nhà khoa học X.A.Tocarep có nhận định: “Đa số các nhà nghiên cứu đều thấy rõ nét điển hình của Saman giáo là việc áp dụng các phương pháp giao tiếp xuất thần nhập hóa (chữ dùng của người dịch Lê Thế Thép) với giới siêu nhiên và việc tách những người có khả năng giao tiếp này. Đặc điểm nổi bật này là đặc trưng của Saman giáo, tới mức các nhà nghiên cứu rất dễ nhận ra nghi lễ và tín ngưỡng saman, miêu tả và phân loại đúng, dù ở nước nào, dân tộc nào mà họ gặp”[1]
          Như vậy là, hai nhà khoa học ở hai chân trời ý thức hệ đều gặp nhau ở đăc điểm của sa man là: xuất thần nhập hóa và liên thông với thế giới siêu linh. Điều này càng chứng tỏ đặc diểm trên là chân lý. 
          Có nhà khoa học nhấn mạnh tính lâu đời, tính phổ quát khắp hành tinh và vai trò trung gian với thế giới bên kia của saman: “Sự thực hành saman, về thời gian, lên đến, ít nhất, một số nghìn năm. Những điểm giống nhau nổi bật giữa các đề tài và thực hành sa man trên tất cả hành tinh chúng ta, gợi ý điều này: đây là một hiện tượng vô cùng lâu đời và một số cấu trúc của tư tưởng loài người là phổ quát. Ngày nay, chúng ta gặp saman ở khắp nơi, sa man vận hành hoạt động cơ bản theo cùng một cung cách và dựa vào cùng những kỹ thuât như nhau, đó là sự trung gian với thế giới bên kia.”
(Peter T.Furst, Giám đốc ban Nhân học, thuộc Đai học Quốc gia tại New York)
Tóm lại, việc thực hành tín ngưỡng saman coi trọng hàng đầu cơ chế xuất thần - nhập hoá, bằng cơ chế này, thầy saman dẫn hồn mình đi đến thế giới vong linh trên trời, dưới đất và trên mặt đất. Và ông/bà saman phải có mối quan hệ liên thông với vong linh.
Ngây ngất là đúng, nhưng nếu chỉ có ngây ngất, thăng hoa mà không có hai đặc điểm trên thì không thể gọi là xuất thần - nhập hoá của saman.
2. Xuất thần-nhập hoá.
Sau nhiều năm nghiên cứu , thể nghiệm và quan sát, cuối cùng chúng tôi đồng ý tiếp nhận lựa chọn thuật ngữ xuất thần - nhập hoá (dịch extase, extatique) [1] để chỉ cơ chế kỹ thuật hàng đầu của saman; với  quan niệm rằng trong hành xử thực tế không/ hoặc khó tách rời hoàn toàn hai khâu xuất thần và nhập thần, có lúc xuất thần bao gồm cả nhập thần, đúng như bà Nguyễn Thuỵ Loan đã viết: “Khái niệm “xuất hồn” ở đây được dùng để chỉ những trường hợp “linh hồn” của một người thoát khỏi thể xác để thâm nhập thế giới siêu thực, mà không tiếp nhận “hồn” của ai khác vào thể xác. Còn việc “nhập hồn” trên thực tế bao hàm đồng thời cả việc “xuất hồn” của bản thân và tiếp nhận “hồn” (khái niệm tạm dùng chung cho các lực lượng siêu nhiên bao gồm cả các đấng thần linh, hồn người chết, ma quỷ) vào thể xác của mình để thực hiện một hành động không bình thường hoặc xuất chúng…”[1]
3. Phương pháp đặc biệt
Tìm mộ có phương pháp thông thường và phương pháp đặc biệt. Thông thường là dùng các khả năng của người thường như: xúc giác, thị giác, thính giác, tưởng tượng. trí nhớ, phán đoán,…Phương pháp đặc biệt như lâu nay vẫn gọi: ngoại cảm, cận tâm lý.,…Ngoài ra, người ta còn tìm mộ bằng sinh học định vị và phương pháp cảm xạ: “ Việc tìm mồ mả thất lạc hiện nay, dù ở Việt Nam hay ở Pháp…con người vẫn sử dụng phương pháp ngoại cảm-sinh học định vị và phương pháp cảm xạ vật lý”[1]
Chúng tôi không muốn sa đà vào việc tranh luận các phạm trù, khái niệm trên nên cứ gọi một cách không khoa học lắm là “phương pháp đặc biệt”.
II.Tín ngưỡng saman trên thế giới - Một số nhận định, đánh giá về saman
Từ xưa đến nay có vô số tài liệu sách vở về saman, chúng tôi chỉ dám đưa ra một số đặc điểm của tín ngưỡng saman như sau:
II.1. Saman là một tín ngưỡng rất phổ biến, tồn tại khắp các châu lục.
Cho đến nay, chúng ta biết đến sự tồn tại của saman ở:
- Trung Á và Bắc Á (người Tatar, người Bouriate, người Kirghize, người Ougrien, người Lapon, người Ostyak, người Yurak, người Samoỳede, người Yakoute, người Dolgan, người Tongouse, người Orotchi, người Koryak, người Tchouktche.)
- Bắc và Nam Mỹ (người Esquimaux, người Paviotso, người Achumawi)
- Đông Nam Á và châu Đại Dương (người Việt và các dân tộc thiểu số Việt Nam, người Semang, người Sakai, người Jakun, người Andamane, người Nicobar, ở Mã lai, ở Sumatra, ở Borneo, người Dayak, người Mélanesy, người  Polynesy)
- Người Ấn –Âu (người Đức cổ, người Hy Lạp cổ, người Scythe, người Caucase, người Ấn Độ cổ, các tộc người thiểu số Ấn Độ)
- Tây Tạng, Trung Quốc và Viễn Đông (người Lôlô. người Moso, người Trung Hoa, Người Triều Tiên, người Nhật Bản)
II.2. Tín ngưỡng saman là tín ngưỡng vào loại rất cổ và có sức sống mạnh mẽ cho đến thời hiện đại
Từ điển tôn giáo nhấn mạnh lịch sử lâu đời của saman: “Saman được mô tả là “nghề nghiệp lâu đời nhất thế giới”, chứng cứ khảo cổ học cho thấy kỹ thuật saman đã có ít nhất là 20 000 năm”.
       Các nhà khoa học xếp tín ngưỡng saman vào loại tín ngưỡng nguyên thu.
  Saman giáo có thể là cổ nhất cả phương Đông lẫn phương Tây, là tôn giáo phổ biến nhất. Nó thường đồng tồn tại với những hình thức khác nhau của pháp thuật, tín ngưỡng và tôn giáo; …” [1]
 Ở Triều Tiên, saman được coi là một bộ phận của văn hoá đồ đồng và tồn tại trước thế kỷ thứ 10 (trước CN). “Nói chung, người ta thừa nhận rằng Saman giáo tồn tại ở bán đảo Triều Tiên trước thế kỷ X (trước C.N,), và tài liệu khảo cổ học cho rằng nó  là một bộ phận của nền văn hoá đồ đồng” [1]
 “Ở Trung Quốc, trong khoảng một thế kỷ nay, trải qua biết bao cuộc biến động chính trị, mỗi lần như thế, thầy saman (Trung Quốc gọi là sư công) đều bị đả kích; trang bị, y phục đều bị đốt phá. Thế nhưng vẫn không tiêu diệt được niềm tin của nhân dân đối với tìn ngưỡng này: “Hoạt động saman của dân tộc ít người nam Trung Quốc thì ở Quảng Tây gọi là “sư công khiêu thần” hay dân gian gọi là “khiêu quỷ”…Tế tự tôn giáo dân gian này trải qua hàng ngàn năm, đã thành một bộ phận không thể thiếu, của văn hoá dân gian. Trong hoàn cảnh lâu dài, quanh co phức tạp, loại tâm lý dân tộc này đã trở thành niềm tin sâu đậm, không chút nghi ngờ trong đầu óc một bộ phận nhân dân. Mặc dù. gần trăm năm nay, xã hội nhiều biến đổi, niềm tin đó vẫn không thể nào thay đổi hoàn toàn để thích ứng với thời đại mới. Hiện tượng kỳ lạ này khiến cho nhiều nhà triết học, dân tục học (văn hoá dân gian) không thể nào hiểu được”[1]
III.Vai trò của saman trong xã hội đương đại
III.1. Ở Hàn quốc
Ở  Hàn Quốc, người ta đánh giá cao vai trò của saman trong thi kỳ hiện đại, nên họ đề xuất một chiến lược phát huy và đổi mới saman gồm 6 điểm:
-Nâng cao trình độ nghệ thuật của saman làm cho nó trở thành trau chuốt, nhằm phù hợp với các tầng lớp khán giả trong cả nước.
- Đưa saman vào hoạt động thương mại, cung cấp sự tiêu khiển cho công chúng tiêu thụ, nâng cao quan hệ cộng đồng và nâng cao quan hệ mật thiết của họ với thế giới thần linh.
- Làm cho saman trở thành một bảo tàng nhân tạo và môt báo cáo về nhân học, bảo tồn hồ sơ và đối tượng saman cho các học giả và toàn thể công chúng nghiên cứu.
- Làm cho saman là một hội tụ liên tôn giáo. Sự mở ra cho hội tụ liên tôn giáo là chung trong truyền thống văn hoá Hàn Quốc , đặc biệt là Phật giáo. Nho giáo và Đạo giáo với saman, bất luận cả trong giai đoạn có mâu thuẫn giữa các tôn giáo.
- Phát triển hệ thống mạng hỗ trợ  cho saman. Một chiến dịch làm đổi mới saman , cần có sự phát triển mạng lưới hỗ trợ, nhằm xúc tiến sức sống của saman về phương diện niềm tin và thực hành.
-Quốc tế hoá saman Hàn quốc. Sự lựa chọn này đòi hỏi phải phát hiện một cơ  sở chung giữa văn hoá Hàn và các hình thức văn hoá saman khác, nhằm xây dựng một hệ thống quốc tế , để hỗ trợ lẫn nhau và san sẻ cho nhau từ bên trong.[1]
III.2. Ở Mỹ
Nhiều nhà khoa học thế giới đã công nhận vai trò đẩy lùi bệnh tật của shamanism và kiến nghị học tập, lợi dụng truyền thống cổ xưa đó để nâng cao sức khỏe cộng đồng: “Shamanism là một truyền thống tri thức có hàng 20.000 năm tuổi. Trong đó tràn ngập các hình thức của y học và tâm lý trị liệu. Thầy saman là những người chữa bệnh đầu tiên, họ chịu trách nhiệm về sức khỏe và cuộc sống tốt đẹp của cộng đồng”[1] …..“Phần kết luận, Viloldo and Kripper so sánh phong cách y tế phương Tây chúng ta với phong cách đó của phương pháp chữa bệnh (của) những thầy saman và người làm tâm linh và những cách khảo sát của họ, mà trong đó chúng ta có thể lợi dụng truyền thống cổ xưa của pháp thuật và chữa bệnh nói trên, và bằng cách đó, chúng ta học để chữa bệnh cho chúng ta và nhiều người khác[1]
Đây là ý kiến của những nhà khoa học của  nước Mỹ văn minh, hiện đại. Vậy thì, chúng ta lại càng phải học tập, lợi dụng truyền thống saman gấp nhiều lần, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.
Chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ, sự bùng nổ, sự “trỗi lên lại” của tín ngưỡng saman trên các miền của đất nước ta, mà các sự kiện chúng tôi lưu ý là: điện thờ tư gia, ngoại cảm tìm mộ và ngoại cảm chữa bệnh[1]. Điều đó diễn ra không riêng gì ở Việt Nam, mà ở các nước trên thế giới cũng như vậy. Sau đây là ý kiến của hai chuyên gia:
- TS. PGS Alberto Viloldo, ở Đại học Quốc gia San Francisco.
- TS, Stanley Kripper, chủ tịch Hội Cận tâm lý, “một trong những nhà nghiên cứu cận tâm lý nổi tiếng nhất trong thế giới ngày nay” (theo sách Healing States)
Họ đã khẳng định: saman đã trỗi lên lại trong thế giới hiện đại ở nhiều lĩnh vực: tôn giáo, tâm linh, chữa bệnh,…:
Saman, một trong những truyền thống cổ xưa nhất của nhân loại, nay đã trỗi lên lại, ở thời kỳ xã hội hiện đại, trong tôn giáo, tâm linh, thực hành chữa bệnh và các truyền thống ý thức. Mặc dầu các chi tiết kỹ thuật của cơ sở và bản chất (của) saman, thường là mơ hồ và khó hiểu, vẫn có một sự thừa nhận rộng rãi rằng, saman là một kiểu loại nguyên thủy của chữa bệnh và phát triển con người. Những điều này vẫn tiếp tục thích ứng với thế giới ngày nay”[1]… 
IV. Tín ngưỡng saman ở các dân tộc/tộc người Việt Nam với cơ chế xuất thần -nhập hoá
IV.1. Lên đồng hầu bóng - người Kinh
  “Xuất phát từ quan niệm rộng rãi nhất, coi saman là hình thức thoát hồn hay nhập hồn, tức là tình huống mà các ông Đồng, bà Đồng tự đưa mình vào một trạng thái ngây ngất (ecstasy) để từ đó tiếp nhận sức mạnh, năng lượng mang tính siêu nhiên thông qua các vị thần Tam phủ Tứ phủ nhập vào, nhằm đạt tới ước vọng sức khoẻ và may mắn. Nếu như vậy, thì Hầu bóng-Lên đồng của Đạo Mẫu là một trong vô vàn các hình thức saman của các dân tộc trên thế giới mà ngày nay trong nhiều dân tộc nước ta còn giữ lại được và đóng góp vào kho tàng văn hoá saman nhân loại  một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng-văn hoá này” [1]
Hầu bóng là nghi lễ trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu (còn gọi là đạo Mẫu). Trong một buổi hầu, thường là nhiều vị Thánh nhập rồi xuất, lại tiếp vị khác nhập /xuất. Mỗi lần nhập xuất như vậy gọi là một giá đồng, với quan niệm thân xác của con đồng là cái giá đỡ để cho Thánh làm việc nhà Thánh.
Sau khi chuẩn bị lễ vật và nghi thức, ông/bà đồng ngồi trước bàn thờ khói hương nghi ngút. Hầu dâng phủ diện cho con đồng. “Khi ông đồng và bà đồng phủ khăn lên đầu thì họ được coi như người đã chết” (Ngô Đức Thịnh)[1] , nói cách khác hồn của họ đã thoát xác để sẵn sàng cho hồn Thánh thay thế và hoạt động. Như vậy, ngay trong nhập đã phải có xuất (và sau khi Thánh thăng lập tức phải có nhập hồn người, không như thế sẽ mất vía, lạc vía). Đó là lý do chúng tôi chọn cụm từ “xuất thần-nhập hoá”.
Các vị Thánh giáng đều đặn là: Quan lớn đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Ngũ; chầu Đệ nhị, chầu Lục; ông Hoàng Bơ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười; cô Bơ Thoải, cô bé Thượng Ngàn, cậu Bơ,…
 Có hai loại lên đồng:
- Loại cấm khẩu, chỉ múa, phát lộc mà không nói,
      - Loại khai khẩu, truyền phán nhiều, có khi hát múa. 
Một số nhân vật được thờ biểu đạt qua bức tranh Tứ Phủ Công Đồng:


IV.2. Mo-người Mường
Người Mường có rất nhiều loại Mo. Ở đây chỉ bàn đến Mo Lên/Mo Lên Trời. Người ta hát kể/diễn xướng Mo Lên trong đám ma, trước quan tài, trong đó còn quàn thi hài người chết. Người hát-kể Mo là ông mo/thầy mo. Nhiệm vụ của ông là bằng xuất hồn -nhập hoá dẫn hồn người chết cùng vía của đoàn người gồng gánh lễ vật (gọi là tứa) lên Trời để thực hiện các việc chính: Đối kiện, Xin tuông, Chuộc sổ. Ngoài ra , đây còn là một cuộc du ngoạn thú vị, qua nhiều cảnh vật kỳ thú như Chùa Chiền Hang Hao, Đá Tầm Tè, Cây đa Đồng Chìu, Chợ Bông-Chợ Hoa,…Có hoàn thành các nhiệm vụ chính ở mường Trời, hồn mới đủ điều kiện về sống yên ổn với ông bà tổ tiên ở mường ma, để cho “đẹp bên ma, lành bên người”. Nếu không, hồn sẽ là những ma xấu, khổ sở đói rách và lang thang, quấy phá gia đình, làng xóm.
Để tổ chức đoàn đi, ông mo phải xuất hồn/vía người sống trong đoàn Tứa , đi theo ông (và khi về phải nhập hồn trở lại) Ông mo vừa là người diễn xướng vừa là người chỉ huy và dẫn đầu đoàn. Luôn luôn chúng ta nghe điệp khúc miêu tả đoàn người/hồn:
Ông mo mường xăm xăm đi trước
Ngài (hồn ma)bước rón theo sau
Tứa khiêng theo sau nhộn nhịp
Gánh theo đi nườm nượp
Người như đàn bướm bay
Lên phần phật chân xống
Lên phần phần chân áo
Cuộc du hành sẽ thất bại nếu đoàn lạc đường, hồn không về được mường Ma và trở thành ma xấu, như trên đã nói, và cũng nguy hiểm , nếu như vía (người sống) không nhập được xác. Người lạc vía sẽ trở thành ngớ ngẩn, điên loạn, có khi chết. Ông Mo nếu không cao tay, có khi cũng bị ma quật. Để có thế lực hộ thân và để bảo lãnh cho các công việc vừa nêu, ông Mo phải có pháp thuật cao và còn phải tôn thờ một vị thần hộ mệnh (thánh sư). Saman của các dân tộc nước ngoài cũng có vị thần này được gọi là “những thần bảo mệnh hoặc trợ giúp thầy saman” (the shaman’s guardian spirits or helpers). Vì vậy, khi làm đám, ông Mo phải đặt bàn thờ thánh sư trước mặt và khấn nguyện sự phù trợ. Đồng thời ông phải có một túi thiêng gọi là khụt (người Thái gọi là khót, người Êđê, Jrai gọi là yang ktung) , trong túi có những vật thiêng như răng thú rừng, lưỡi tầm sét, đá quý,…
Tóm lại, nghi lễ mo Mường trong   đám tang là một cuộc xuất thần -nhập hoá nhiều người. Trong đó ông Mo có nhiều trọng trách:
- Tự xuất thần -nhập hoá mình, lại phải xuất thần  và nhập hoá hoàn chỉnh cho đoàn tứa,
- Chỉ đạo và dẫn đầu đoàn người và hồn người chết đi đúng đường lên mường Trời rồi trở về trần gian,
-Tiếp xúc giao dịch, có khi phải đấu tranh thuyết phục các nhân vật siêu nhiên trên thế giới mường Trời.
Vậy ông Mo mường là một thầy saman với đầy đủ tính chất và đặc điểm của nó.
IV.3. Mo -người Thái
Người Thái cũng như nhiều dân tộc anh em khác, tin rằng khi người chết, hồn  tách ra khỏi xác và vẫn tồn tại, vẫn có “cuộc sống” riêng. Các hồn đó phải được ông mo chỉ lối dẫn đường để  đi về với tổ tiên, cư ngụ đúng vị trí của từng loại hồn, ở mường Trời. Như vậy, hồn sẽ “sống” bình yên, phù hộ cho con cháu. Ngược lại, nếu không được đưa đường, hồn sẽ  tán loạn khắp nơi, biến thành những hồn ma xấu, lang thang, không ai thờ cúng, gây hại cho xã hội và gia đình.
Nhiệm vụ về phương diện tín ngưỡng của cúng dẫn hồn là đưa hồn đi đến nơi đến chốn để đạt được hai phía “đẹp bên ma, lành bên người”.
Tuy nhiên, việc dẫn hồn không đơn giản. Vì rằng, đường lên mường Trời xa xôi, cách trở; hơn nữa, khác với các dân tộc anh em, trong lúc các dân tộc chỉ có một hồn, người Thái lại có 80 hồn.
Vì vậy, ông mo phải chỉ cho các hồn đúng nơi cư trú của từng hồn (hồn ngọn/hồn cuối), công việc này đựơc gọi là rải hồn.
Cuối cùng , qua muôn vàn gian truân khổ ải, nhờ sự hiểu biết và sự chỉ dẫn tận tình của ông mo, các hồn đều được về đúng chỗ và hồn gốc về với tổ tiên ở Liên Pán, nơi đó cuộc sống tuyệt đẹp, như ước mơ của loài người muôn đời nay:
      Muốn ăn cơm, gạo tự đến
      Muốn ăn cá, cá tự lại
      Hạt thóc to, phải lấy rìu bổ
      Cọng rau lớn, phải lấy rìu chặt
     Ăn no đủ ba ngày
Một nhiệm vụ rất quan trọng nữa của ông mo là tập hợp và đưa trở lại trần những vía đi tiễn hồn. Việc thu gom phải triệt để, không được để sót, nếu sót thì vía đó bị lạc, chủ nhân của vía sẽ ốm đau, bệnh tật và ông mo có lỗi với các gia đình thân chủ.
Để làm những nhiệm vụ quan trọng trên đây, ông Mo Thái phải:
- Xuất thần-nhập hoá để đi lên mường Trời,
- Phải có khả năng tiếp xúc giao dịch với thế giới siêu linh,       
- Phải dẫn hồn người chết và đoàn vía người sống đi đúng đường,
- Phải đưa vía người sống về và nhập hồn lại đầy đủ cho họ.
Ông là một thầy saman tiêu biểu, đã làm những nhiệm vụ tiêu biểu của  saman
IV.4. Mỡi-người Mường
Chức năng của Mỡi là chữa ốm đau, cầu lành, cầu phúc.
Trình tự của một lễ Mỡi chữa ốm đau gồm năm phần:
- Phần thứ nhất. Lúc này Thánh Mỡi chưa nhập. Người làm Mỡi khấn xin Thánh nhập vào họ.
- Phần thứ hai. Lúc này Thánh đã nhập, người làm Mỡi xưng là Vua Cả, đi mời ma gây bệnh về trước  sập thờ để hưởng lễ.
- Phần thứ ba. Người làm Mỡi , có Thánh nhập, nhân danh Thánh mời ma ăn trầu, hưởng cỗ, yêu cầu ma trả lại vía cho người.
- Phần thứ tư. Mỡi tiễn ma về nơi ở của chúng và dặn không bao giờ quấy rối vía người  ốm này nữa.
- Phần thứ năm. Dâng ăn cho vua Mỡi, các Thánh, các vị kem (chức việc bên ma Mỡi) và tổ tiên người Mỡi.
Bốn trong số năm phần của buổi lễ ông/bà Mỡi ở trong tình trạng xuất thần- nhập hoá. Những vị vua thánh nhập vào Mỡi là vua cha Ngọc hoàng, Đức Mễ Wàng Pà, Đức Ông Thánh Cả, ba Ông Thánh Hiền, ông Tề Thiên Đại Thánh.
Khi nhập, Mỡi hát và nói trong trạng thái ngây ngất, thường là không biết gì. Lúc đó họ trở thành vua Mỡi và xưng là vua Cả. Họ gọi người phụ lễ là wa con (hoa con), phụ lễ nam là wa wàng (hoa vàng), nữ là wa pạc (hoa bạc).
Tóm lại, cơ chế xuất thần- nhập hoá có vai trò quan trọng hàng đầu và chi phôí toàn bộ quá trình thực hành tín ngưỡng Mỡi của người Mường. Ông/ bà Mỡi có khả năng liên thông với thế giới âm gồm một bên là vua, thánh, bên kia là ma[1]. Mỡi là một hiện tượng tiêu biểu của sa man.
IV.5.Then- người Tày
Trong nghi lễ Then có cả nhập hồn và xuất hồn.
Mở đầu buổi lễ, ông/bà Then làm tiết mục mở đường hoặc chuộc binh để nhập Then. Ông /bà Then định thần, trong tiếng đàn hát, tay xóc nhạc. Bỗng ông /bà rùng mình. Đó là lúc hồn người thoát ra khỏi thể xác và hồn ma Then nhập vào. Hiện tượng xuất thần-nhập hoá được thực hiện. Trong cả quá trình buổi lễ, tình trạng tâm thần của ông/ bà Then vẫn như vậy, chỉ có khác là các nhân vật siêu linh thay đổi vai. Ngọc hoàng và các thiên tướng nhà Trời kế tục nhau nhập đồng.
Thường là Ngọc hoàng mở đầu. Ngài khai quang cho Then, cấp bổng lộc, rồi xóc nhạc ngựa (coi như lên đường) và thăng. Tiếp theo là các Tướng Hiển (còn gọi là Tướng Hoả thang), Tướng Hổ, Thánh Cá,…Tướng Hiển chủ sự về trừ ma , chữa bệnh, thường nhập đồng dưới dạng dẫm lên đống lửa đang cháy. Tướng Hổ nhập vai con hổ, cào cấu và gào thét. Thánh Cá nhập đồng dưới dạng trẻ con, v.v…[1]
Quá trình tiến hành nghi lễ, ông/bà Then có nhiệm vụ dẫn âm binh đi đến các cửa Tổ tiên, Thành hoàng, Thổ thần, tổ nghề Then,  các Thiên tướng và Ngọc hoàng. Những lúc này , trong trạng thái xuất thần-nhập hoá, xuất hồn người, nhập hồn ma Then, ông/bà Then tiếp xúc, giao thiệp với các vị thần linh. Nên nhớ, trong các thao tác này, ông/bà Then không có giờ phút nào được lơ là mà trở thành người thường (không xuất thần nhập hóa).
Tóm lại, cơ chế xuất thần -nhập hoá có vị trí quan trọng hàng đầu và chi phối việc thực hành nghi lễ Then của người Tày, đúng như GS Ngô Đức Thịnh đã tổng kết: “Nghi lễ Then là một hình thức shaman giáo thể hiện qua việc nhập hồn và xuất hồn, trong đó , nhập hồn các thần linh vào thân xác của các bà Then, ông Then là chủ yếu, để cầu an, giải hạn, chữa bệnh, bói toán và để cấp sắc, nâng sắc cho bản thân các bà Then, ông Then nữa”[1]
IV.6. Úa lếnh-người Hmông
Thầy sa man người H’mông được gọi là chí lếnh= ông thầy cúng, việc thực hành nghi lễ sa man được gọi là úa lếnh=làm cúng/cúng. Khi cúng, phần lớn là chữa bệnh, chí lếnh chủ yếu là xuầt hồn đi khắp các nơi ở thế giới âm để tìm hồn ma ác đã làm hại người ốm. Những nơi mà ông thường đến là:
-Đột nhập vào ngôi nhà người ốm,
- Lặn xuống thế giới dưới nước,
- Bao vây khu ở cũ trước khi di cư.
- Lần đường về nơi ở của tổ tiên,
- Đến hang quỷ ăn thịt người và thùng nước mắt,…
Như vậy, khi thầy saman trùm khăn, xuất hồn là lúc thầy đi vào thế giới của ma. Chỉ có ông mới có khả năng giao tiếp với thế giới bên kia.
Tóm lại, chí lềnh/thầy saman người H’mông khi làm việc âm đã huy động hai khả năng đặc biệt là: xuất thần-nhập hoá và liên thông với các nhân vật siêu linh.[1]
IV.7. Vijơu-người Raglai 
Thầy cúng ở người Raglai gọi là vijơu, có hai loại chính: cúng lên đồng (vijơu pamõng) và cúng không lên đồng (vijơu cati). Chỉ có cúng lên đồng mới là đối tượng nghiên cứu của bài này. Và ở đây, xin quy ước, khi nói vijơu có nghĩa là vijơu pamõng.
Vào lễ cúng, vijơu ngồi xếp bằng, đầu trùm khăn, thường là màu trắng, phủ xuống quá vai, miệng ngậm ngải, tay cầm chiếc lá (thường là lá mít) tương trưng cho cái quạt. Hỗ trợ cho vijơu có người phụ đồng (hulơu valàc). Ông này không xuất thần, tâm thần tỉnh táo.
Nhiệm vụ chính của vijơu là thực hiện một cuộc du hành, trong trạng tháí xuất thần-nhập hoá, đến ngưỡng cửa của thế giới thần linh, rồi đến gốc khế thần, có gian trại thần, giao tiếp với thần linh, lần lượt tìm hỏi các thần để biết căn nguyên dẫn đến ốm đau, tai hoạ của thân chủ mình.
Các thần thường được mời gọi là: Thần rơm rạ lúa gạo, Thần Trời, Thần Sấm, Thần đập nước, Thần Rồng,…Thân mình vijơu thỉnh thoảng rung lên, hoặc là ông rung đùi, huýt sáo. Phụ đồng/hulơu valàc nói lời phụ hoạ.
Có lúc chiếc lá trên tay vijơu không phe phẩy (tức là không làm nhiệm vụ quạt) mà lật đi lật lại, vijơu nhìn chăm chú vào đấy: ông đang xem sổ sách ở Thượng giới để tìm hiểu số phận của thân chủ.
Một công việc quan trọng nữa của vijơu là bắt các thần ác, thần phá hoại nhốt vào hộp sắt thần, hộp bạc thần. Ông phải nhờ vào các vị thần lớn mới làm được việc trên. Lúc này, người ta nghe ông phát ra những tiếng hú kéo dài.
Mặc dầu khá vất vả, cuối cùng ông hoàn thành mọi công việc, chào chia tay để trở về  trần gian. Ông rùng mình liên tiếp, lắc mạnh người và giật mạnh khăn trùm đầu. Hồn người thường đã trở lại với vijơu.
Tóm lại, vijơu pamõng là sa man của người Raglai. Trong khi thực hành nghi lễ, ông đã thực sự xuất thần- nhập hoá, đi lên thượng giới, tiếp xúc với các vị thần, tìm hiểu và cầu xin; đồng thời bắt giữ các ma xấu.  Các việc này có mục đích chữa bệnh và điều hoà các mâu thuẫn xã hội của thân chủ.[1]
IV.8. Pjâo-các tộc người Tây Nguyên
Hầu hết các tộc người Tây Nguyên đều có saman, với các tên gọi tương tự như nhau: người Jrai, Bahnar gọi là Pjâo, Êđê gọi là Mjâo, Mnông là Bujâu, người K’ho gọi là Bơjơu, Churu là Pjơu… Xin quy ước một tên chung là Pjâo.
Pjâo khác với những thầy cúng được nhân dân gọi là pô riu yang (ông khấn thần) hoặc pô iâo yang (ông gọi thần). Các ông này chỉ biết khấn, mời gọi thần, khác với pjâo, họ không  có khả năng xuất thần-nhập hoá.
Pjâo thường làm các việc : tìm kẻ phạm tội (ví như ăn trộm) và chữa bệnh, phần lớn là chữa bệnh.
Mở đầu buổi lễ bao giờ cũng có thủ tục thỉnh cầu thần linh nhập vào pjâo. (Lưu ý, ở đây không có khăn phủ diện; chỉ người Kinh, người Chăm và người Raglai mới dùng loại khăn này) Ông ta thường khấn:
Bẻ hai lá đa, ba lá sung
Cầu thần
Cho trong miệng tôi có thần
Cho trong hàm tôi có sắt
Cho môi tôi biết đoán trước.
Khi nhập thần ông rùng mình. Các pjâo làm phép bằng nhiều cách, ví dụ:
- Soi nến lên thân thể người bệnh để tìm nguyên nhân ốm đau
- Đo gang tay và sải tay để tìm bệnh, chữa bệnh
- Bóp trứng gà để tìm kẻ phạm tội
Tóm lại, pjâo là saman của nhiều tộc người Tây Nguyên. Họ có khả năng xuất thần-nhập hoá, được  thần linh (yang) và linh hồn tổ tiên nhập vào thể xác mình , để chữa bệnh và tìm tội phạm.[1]
VI. 9.  Saman của người Chăm
Saman người Chăm gọi là “Yang rajak[1] là lọai hình lên đồng nhập bóng trong tín ngưỡng dân gian của người Chăm chủ yếu là diễn ra ở bà Pajau (Pơjau) (bà bóng) và thầy Ka-ing (ông bóng). Trong nghi lễ cúng tế đền tháp, lễ nghi cộng đồng khi bà Pajau ngồi đồng một hồi lâu (xuất thần để đưa người về trạng thái rỗng), sau đó khi bị thần linh nhập vào thì toàn bà run lên, người Chăm gọi hiện tượng này là “yang rajak”. Khi yang rajak (thần linh nhập), bà Pajau thường mách bảo những điều tốt, xấu mà thần linh truyền đến cho dân làng như nói về việc thần linh nổi giận vì dân làng bị ô uế, loạn luân, chửa hoang, ăn cắp, người chết khiêng qua làng. Năm nào dân làng vi phạm những điều trên thì thần linh sẽ trừng phạt cả cộng đồng, không cho trời làm mưa, hạn hán, mất mùa và đói kém. Muốn tránh được tai ương, sự trừng phạt của thần linh thì dâng làng phải cúng lễ tế thần để tạ lỗi và hứa với thần sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Lúc đó thì thần mới ban cho mưa thuận gió hoà, khỏi bị hạn hán, bệnh dịch, dân làng sẽ được sức khoẻ và mùa màng.
Sau khi Bàlamôn, đặc biệt là Hồi giáo xâm nhập vào Chăm thì loại hình Saman giáo người Chăm biến đổi và ảnh hưởng đậm Mã Lai. Bên cạnh bà Pajau làm nghề đồng bóng, thì xuất hiện thêm bà Raja và ông bóng Ka-Ing trong hệ thống lễ Raja. Dựa vào nhiều tư liệu cho biết, bà Raja và ông bóng Ka- ing có nguồn gốc từ Mã Lai.[1] Về sau hình thức lên đồng nhập bóng của ông Ka- Ing trong lễ Raja Chăm phong phú và hấp dẫn hơn bà Pajau trong lễ nghi dân gian cũng như lễ nghi ở đền tháp Chăm Ahier. Những yếu tố nghi lễ, tục cúng, những cung văn, khúc nhạc, lời ca, điệu múa, sự hòa âm phối khí của nhạc lễ, khói trầm hưởng bay nghi ngút trước bệ thờ, tượng thờ, những lời cầu khấn và chấp tay cầu nguyện của dân làng là những yếu tố tổng hòa tạo nên hiện tượng hoá thân của bóng đồng của bà Pajau, Raja và thầy Ka-Ing trong loại hình tín ngưỡng, Saman của người Chăm . Khác với bà Pajau cúng tế ở đền tháp, bà Pajau Chăm trong lễ Rija có khả năng chữa một số bệnh thông thường[1].
Tóm lại, Saman của người Chăm có nhiều hình thức và có cả ở hai giới đàn ông và đàn bà. Cả hai đều có khả năng xuất thần-nhập hoá, được thần linh (yang) và linh hồn tổ tiên nhập vào thể xác mình, để chữa bệnh, truy tìm tội phạm và có khả năng dự báo trước những điều lâm nguy sẽ đến với cộng đồng nếu có.
     
 Khắp đất nước ta, từ bắc chí nam, rất nhiều dân tộc/tộc người tôn thờ tín ngưỡng sa man: Kinh, Mường, Thái, H’mông, Tày, Êđê, Jrai, Bana, Chăm, Raglai,v.v…Đó là những tín ngưỡng sa man tiêu biểu với những đặc điểm về cơ chế vận hành như:
- Thầy sa man nhập định, rồi xuất thần- nhập hoá, đi vào thế giới siêu linh, ở mường Trời.
- Ông tiếp xúc với các nhân vật thần linh để thương thuyết, cầu xin nhằm thực hiện một số công việc đối với người trần như: chữa bệnh, dẫn hồn người chết, tìm vía bị lạc, tìm tội phạm, bắt giữ ma ác,…
- Trong một số trường hợp ông còn phải đẫn đầu và chỉ đạo một đoàn vía tuỳ tùng, xuất và nhập, hồn/vía họ, đưa họ đi đến nơi, về đến chốn.
   
V. Kết luận
1. Tín ngưỡng saman là một hiện tượng lâu đời, khoảng 20 000 năm  và được phổ biến rộng rãi trên các châu lục. Nhiều quốc gia dân tộc đánh giá đúng mức hiện tượng văn hóa tín ngưỡng này, đã phát huy nó trong xã hội hiện đại.
2. Đây cũng là một tín ngưỡng có từ lâu đời và phổ biến rộng rãi trong các dân tộc/tộc người  nước ta
3. Cơ chế đặc trưng của saman là xuất thần-nhập hóa và liên thông với thế giới siêu linh. Đặc trưng này có liên quan đến khả năng tiềm ẩn của con người mà ngày nay Việt Nam cũng như trên thế giới đang dầy công nghiên cứu và ứng dụng.
4. Cũng như một số nước trên thế giới, tín ngưỡng này “đã trở thành niềm tin sâu đậm không chút nghi ngờ trong đầu óc một bộ phận nhân dân”. Vậy chúng ta cần:
- Thực hiện đúng pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, bảo đảm tự do tín ngưỡng;
- Khai thác những mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của saman các dân tộc để phục cho đời sống, xã hội
  Tài liệu tham khảo chính  (xin xem cuối bài 2)           
                                  

[1] GS TSKH, Giám đốc Trung tâm bảo trợ văn hóa kỹ thuật truyền thống

THÔNG TIN TIỀM NĂNG CON NGƯỜI THỜI TOÀN CẦU HÓA

Bài đăng ở Kỷ yếu HNKH toàn quốc lần 1 tháng 01/2016 về "Nghiên cứu và ứng dụng KNĐB của con người" do Viện NC&ƯD tiềm năng con người chủ trì tổ chức.

THÔNG TIN TIỀM NĂNG CON NGƯỜI THỜI TOÀN CẦU HÓA
                                                                         Trần Mai Anh[1]
 1-Khoa học, đặc biệt là khoa học công nghệ đã có những bước tiến dữ dội nhưng vũ trụ vẫn đầy bí ẩn. Một kết quả nghiên cứu cho thấy, những kiến thức khoa học đã biết về vũ trụ mới chiếm khoảng 4%, còn lại cả nhân loại đang phải sống tù mù trong khoảng vật chất tối và năng lượng tối cùng nơm nớp lo sợ trước những dự báo và lời tiên tri về ngày tận diệt của thế giới..
          2-Không biết bao nhiêu công sức nhân loại đã bỏ ra để nghiên cứu khả năng đặc biệt tiềm ẩn của con người. Vậy nhưng, con người với tư cách là một “tiểu vũ trụ” vẫn còn biết bao điều bí hiểm. Có một thế giới khác ngoài thế giới con người đang sống trên mặt đất hay không? Có sự tồn tại của vong linh, của linh hồn và sự giao lưu giữa hai cõi âm dương hay không? Các nhà khoa học  của bộ môn Cận tâm lý thuộc Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người sau nhiều năm hoạt động, nghiên cứu, đặc biệt là từ kết quả công cuộc tìm kiếm, quy tập hài cốt của hàng ngàn liệt sĩ với sự chỉ dẫn, đóng góp của các nhà ngoại cảm và các hoạt động tâm linh, thì tin là có và đang tập trung nghiên cứu chứng minh cho niềm tin đó của mình. Nhưng nếu có, thì các linh hồn tồn tại, phiêu lãng và quan hệ với nhau ra sao, giao tiếp và tác động như thế nào, theo cơ chế nào tới cuộc sống của con người trên mặt đất, thì vẫn còn đầy bí hiểm. Đấy vẫn đang là một thách thức rất lớn chờ đợi sự giải đáp và những kết luận dứt khoát của những công trình nghiên cứu khoa học có luận cứ vững chắc, thuyết phục, được giới khoa học thừa nhận, được các cơ quan quản lý nhà nước chấp nhận.
3-Thông tin về tiềm năng con người tức là thông tin về những khả năng đặc biệt còn tiềm ẩn trong những “con người đặc biệt” mà giới khoa học không chỉ của nước ta mà của thế giới đang bỏ không biết bao nhiêu công sức tìm hiểu, trong đó có rất nhiều lĩnh vực chưa thể thực sự chứng minh được bằng những kết luận khoa học. Khi đề cập tới những vấn đề về thần giao cách cảm, tiên tri, hậu tri, thấu thị hay thấu thính, ngoại cảm, viễn di sinh học, cận kề cái chết, xuất hồn hay thoát xác, luân hồi, giao tiếp với người chết... là đã đi vào làn ranh giữa hư và thực, giữa khoa học và mê tín dị đoan. Việc nghiên cứu những vấn đề hết sức phức tạp đó đã rất khó khăn, việc ứng dụng nó (tức những khả năng đặc biệt của con người mà khoa học chưa thực sự chứng minh và kết luận được) vào cuộc sống của cộng đồng (chữa bệnh, tìm mộ, giao tiếp với người chết) còn khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều. Những kẻ lợi dụng tâm linh, giả danh nhà ngoại cảm mưu lợi ích riêng khiến tâm lý của cộng đồng thêm phức tạp, gây áp lực cho những nhà ngoại cảm chân chính đang đem khả năng đặc biệt của mình ra phụng sự cuộc sống của cộng đồng. Ủng hộ hay phản đối, cho phép hay dẹp bỏ nhiều khi đã làm nổi sóng dư luận. Các nhà khoa học đặt ra yêu cầu tiếp cận các hiện tượng kỳ bí một cách khách quan với thái độ thực sự cầu thị, tôn trọng sự thật để khám phá những khả năng đặc biệt của con người. Chính vì vậy, những người làm công tác truyền thông khi tiếp cận và thông tin về lĩnh vực này càng phải đặc biệt cẩn trọng. Một thông tin đưa ra là lập tức được sự tiếp nhận và phán xét của dư luận xã hội. Chính vì vậy, nếu thông tin về những điều đặc biệt về tiềm năng con người (nhất là lĩnh vực cấu trúc phi vật thể, vô hình, tức phần hồn) mà không chính xác, vội vàng đưa ra các kết luận không khoa học, mang mầu sắc mê tín dị đoan bị dư luận xã hội phản ứng thì hậu quả sẽ khó lường.
4-Đặc biệt là chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, với sự nâng bước của công nghệ thông tin hiện đại, toàn cầu hóa đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng những khả năng đặc biệt còn ở dạng “tiềm năng bí ẩn chưa được nghiên cứu và khai phá hết” của con người. Nó diễn ra chóng mặt với tốc độ và quy mô nằm ngoài sức tưởng tượng của ngay cả các nhà nghiên cứu. Cùng một lúc nhân loại có thể cùng xúc động hay phẫn nộ về một thông tin, một hình ảnh được phóng ra trên xa lộ thông tin phẳng, không biên giới của hành tinh này. Không còn là luồng gió mới của thời khởi đầu Internet nữa, mà giờ đây đã là những cơn bão thông tin toàn cầu. Không chỉ những tuyên bố, thông điệp quan trọng, to tát, mà nhiều khi chỉ một câu nói, một bản tin, một hình ảnh của một viện nghiên cứu khoa học hoặc một làng quê nào đó trên đất nước ta cũng có thể lập tức được thế giới biết đến và lưu dấu lại. Vạ mồm vạ chữ trong thời đại Internet nguy hiểm là vậy. Dù có hạ bài, hạ ảnh thì công cụ tìm kiếm trên Google vẫn chỉ ra. “Văn bia” Internet vẫn còn đó. Thời công nghệ hiện đại, Internet và các mạng xã hội tương tác (mạng Facebook có tới 1,15 tỷ thành viên) đã phá vỡ mọi biên giới thông tin, tin tức hình ảnh truyền lan với tốc độ chóng mặt. Theo con số thống kê được công bố, hiện nay ở Việt Nam có 35 triệu người sử dụng Internet, trung bình mỗi người Việt Nam sử dụng Internet 5,2 giờ mỗi ngày, trong đó có 3,1 giờ cho mạng xã hội. Tổng số người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam lên tới khoảng 30 triệu người, phổ biến nhất là Facebook. Sự phát triển mạnh mẽ, sức hấp dẫn, cập nhật xuất bản thông tin dễ dàng, tốc độ lan truyền nhanh chóng, liên tục từng giây, tính chất kết nối, tương tác mở, bày tỏ ý kiến trực tiếp và tranh luận công khai là ưu thế của mạng xã hội đem đến trong kỷ nguyên công nghệ số. Mạng xã hội ngày càng “phủ sóng” rộng khắp trên toàn thế giới, trở thành nguồn thông tin vô cùng phong phú cho cộng đồng xã hội, kể cả các báo chí khai thác. Nhiều quan chức và cơ quan công quyền của nhà nước cũng sử dụng Facebook. Vì thế thông tin có thể nhiễu loạn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội. Không ít trường hợp mạng xã hội còn dẫn dắt thông tin, tạo nên những làn sóng dư luận mạnh mẽ. Trong tình hình đó, những thông tin về tiềm năng con người liên quan đến lợi ích cộng đồng (chữa bệnh, tìm mộ, giao lưu với người đã khuất, gọi hồn, áp vong...) trở nên hấp dẫn, nhạy cảm, và khi được nhiều người quan tâm bày tỏ tình cảm, chính kiến của mình thì nó trở thành những “tâm trạng xã hội”. Tâm trạng đó lại được thể hiện trên mạng xã hội Facebook, mỗi ý kiến lại kéo theo hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hàng vạn lượt người “chia sẻ”... Vì vậy, thông tin về lĩnh vực tiềm năng con người phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và phải đặc biệt cẩn trọng.
          5-Trang thông tin điện tử (website) mới của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người đã được xây dựng với tốc độ truy cập nhanh, đảm bảo các yêu cầu hiện đại-khoa học-phong phú. Có cả phiên bản online có thể truy cập và sử dụng trên điện thoại thông minh. Cùng với website là Thông tin TIỀM NĂNG CON NGƯỜI, sau này sẽ là Tạp chí TIỀM NĂNG CON NGƯỜI. Đây chính là cơ quan ngôn luận, là chiếc cầu nối các hoạt động của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người với xã hội và với các cơ quan nghiên cứu nước ngoài về lĩnh vực tiềm năng con người. Không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, bày tỏ chính kiến mà còn là diễn đàn hợp tác, trao đổi dẫn dắt dư luận xã hội về lĩnh vực tiềm năng con người.. Thông tin về lĩnh vực tiềm năng con người trên website và trên tập san của Viện cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng khác trong thời toàn cầu hóa đã đặt ra không ít vấn đề cần được tiếp tục suy nghĩ một cách cặn kẽ.



[1]  Thạc sĩ - Nhà báo, cố vấn Trung tâm Thông tin-Dữ liệu Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người

ĐÔI NÉT VỀ KHOA HỌC NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM

Bài đang Kỷ yếu HNKH toàn quốc lần 1 tháng 01/2016 về "Nghiên cứu và ứng dụng KNĐB của con người" do Viện NC&ƯD tiềm năng con người chủ trì tổ chức.

 ĐÔI NÉT VỀ KHOA HỌC NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM

1. RA ĐỜI
            Lĩnh vực ngoại cảm/tâm linh khá là nhạy cảm ở nước ta; sách dịch nhiều, nhưng các nghiên cứu trong nước chưa được truyền thông đại chúng quan tâm đưa tin[2]. Có lúc phải mang hình thức “tài liệu lưu hành nội bộ”, số lượng rất hạn chế, ai biết thì có. Người ở Hà Nội thường may mắn hơn người vùng khác. Do đó thông tin về khoa học ngoại cảm ở Việt Nam chưa thể đến với nhiều người, nhiều nơi. Hôm nay tôi xin chia sẻ một chút thông tin về khoa học ngoại cảm ở Việt Nam, hầu mong mọi người thấy được ngoại cảm/tâm linh là lĩnh vực đã được Nhà nước Việt Nam chính thức đưa vào nghiên cứu từ lâu, khoảng 20 năm nay. Bài tóm lược dưới đây được tổng hợp từ nhiều nguồn, bạn đọc chưa thỏa mãn có thể vào mạng tham khảo thêm.
Theo tài liệu “Nguyễn Đức Cần nhà văn hóa tâm linh” (sách NXBVHTT, 2013) tại trang 137, Nhà nghiên cứu (NNC) Nguyễn Phúc Giác Hải (cũng là tác giả) sử dụng cụm từ “khoa học ngoại cảm” ở “Phần III: KHOA HỌC NGOẠI CẢM Ở VIỆT NAM”. Ở đây, NNC Nguyễn Phúc Giác Hải đã giải nghĩa về hiện tượng ngoại cảm: “Những hiện tượng đặc biệt về tinh thần, thường gọi là hiện tượng ngoại cảm (extrasensory), bao gồm những khả năng đặc biệt về tinh thần như: thần giao cách cảm, liên lạc với người âm, sự tiên tri, hồi tưởng, thiên nhãn thông, quan trắc ngoại cảm, hào quang, gọi hồn, thấu thính, thấu thị,…”. Trang 139-140, mục “PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NGOẠI CẢM” ông viết: “Ngoại cảm thuộc về khoa học huyền bí (pseudoscience), vì vậy tất cả hệ thống lý thuyết cũng như phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại không thể áp dụng trong lĩnh vực này được… Hiệp hội tâm lý học của Mỹ lựa chọn phương pháp nghiên cứu bằng thực nghiệm (experimental research) thông qua những số liệu thống kê để kết luận đánh giá về hiện tượng tâm linh… Trên thế giới đã thành lập các trung tâm nghiên cứu về tâm linh, đó là Hội nghiên cứu tâm linh của Anh thành lập năm 1882; Hội nghiên cứu tâm linh của Mỹ thành lập năm 1885. Năm 1969, Mỹ chính thức thành lập Hội nghiên cứu cận tâm lý trực thuộc Hội xúc tiến khoa học Mỹ; Hội nghiên cứu cận tâm lý Nhật thành lập năm 1968; Hội nghiên cứu tâm linh Scotland thành lập năm 1987;..
Ở Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người (CIHC) được thành lập ngày 16/11/1996. GS TSKH Phan Anh làm Chủ tịch Hội đồng Trung tâm, PGS.TS Ngô Đạt Tam làm Giám Đốc, GS Đại tá Ngô Vi Thiện làm Chủ tịch Hội đồng khoa học. Đây là ba nhà khoa học sáng lập cơ quan đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về khả năng đặc biệt của con người. Sau khi PGS TS Ngô Đạt Tam nghỉ, các nhà khoa học lớn  GS.VS Đào Vọng Đức (nguyên viện trưởng Viện Vật lý), GS TSKH Phan Anh làm Giám đốc.  Từ 2016 bà Võ Hòa Bình làm Giám đốc CIHC.
Sau này, thực tế khách quan yêu cầu phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu về ngoại cảm/tâm linh nên có 14 nhà khoa học, nhà quản lý năm 2012 đã sáng lập Viện Nghiên cứu & Ứng dụng tiềm năng con người – IHP do GS.VS Phạm Minh Hạc làm Viện trưởng/ chủ tịch Hội đồng Viện, nay Thiếu tướng PGS.TS Ngô Tiến Quý là Viện trưởng, và GS.TSKH Phan Anh làm Chủ tịch Hội đồng Viện/Chủ tịch Hội đồng khoa học của IHP.
Như vậy khoa học ngoại cảm ở Việt Nam ra đời khá trễ so với nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên việc nghiên cứu ngoại cảm ở nước ta được biết đến từ khi Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cử NNC Nguyễn Phúc Giác Hải đến nghiên cứu trường hợp ông Nguyễn Đức Cần (còn gọi là cụ Trưởng Cần, 1909-1983) vào khoảng đầu năm 1974 (sau có thêm GS.TS toán-lý Nguyễn Hoàng Phương tham gia nghiên cứu). Ngày 26/04/1974, trong một buổi báo cáo của NNC Nguyễn Phúc Giác Hải tại Bộ Công An, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã phát biểu: “Việc chữa bệnh của cụ là có cơ sở khoa học, trước đây tôi cũng có khả năng này, nhưng do tham gia cách mạng, nếu không tôi cũng có khả năng chữa một số bệnh như cụ Cần”[3]. Vào ngày 30/04/1974, các cơ quan của Nhà nước đã tổ chức quay phim việc chữa bệnh tại nhà cụ Trưởng Cần, có mặt ông Lê Khắc, Phó Chủ nhiệm UBKHKT Nhà nước, thiếu tướng Kinh Chi, ông Đặng Quốc Bảo… “Rất tiếc là những điều kiện sau đó không thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học ngoại cảm ở nước ta. Mãi đến năm 1990, khi tôi trở lại công tác tại Viện Khoa học Việt Nam, vấn đề nghiên cứu ngoại cảm mới được chính thức được đặt lại”[4] – lời của NNC Nguyễn Phúc Giác Hải (theo sách đã dẫn). Quý vị có thể tham khảo mục “(3)-GÓC NHÀ NGHIÊN CỨU SIÊU NHIÊN N.P.G.H” tại FB này hoặc trên mạng để biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp đầy sóng gió của NNC Nguyễn Phúc Giác Hải, khi ông chấp nhận rời UBKHKT Nhà nước để bảo vệ chân lý suốt 15 năm. Ngoài NNC Nguyễn Phúc Giác Hải chuyên ngành sinh học, khoa học ngoại cảm ở Việt Nam còn được các chuyên gia ở nhiều ngành khác tham gia nghiên cứu. Trong đó có vật lý, điện tử, tâm lý học, toán học, toán cơ, y khoa, khảo cổ,… Họ là các giáo sư, viện sĩ, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo,… có chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm sau những năm trải qua thực tiễn.
Top of Form
Bottom of Form
 2. HOẠT ĐỘNG
Kể từ năm 1996 đến nay, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người – CIHC và Viện nghiên cứu và ứng dụng tiềm năng con người – IHP đã cộng tác với nhiều nhà ngoại cảm chân chính tiến hành cả trăm thực nghiệm về ngoại cảm tại hiện trường. Thực hiện thành công hàng loạt đề tài NCKH cấp Bộ, mà mới thoáng qua nội dung đã thấy thú vị như đề tài “TK-05 & TK-06: người sống tìm người chết”/“TK-07: người chết tìm người sống”. Kết quả thu được ngoài sức tưởng tượng, nhiều nước đi trước Việt Nam không thể có được. Xin đơn cử một kết quả: “Danh sách những sự kiện tìm hài cốt nổi bật, được nhiều người biết”: Các AHLS và nhà cách mạng nổi tiếng Việt Nam như cố TBT Trần Phú, nhà cách mạng Nguyễn Đức Cảnh, nhà văn Nam Cao, hơn 500 AHLS hy sinh tại K’Nak-Tây Nguyên, gần 4.000 AHLS hy sinh tại Phú Quốc - Kiên Giang, hơn 5.000 AHLS hy sinh trên khắp chiến trường được quy tập về Bà Rịa-Vũng Tàu, hàng vạn thân nhân mất tích trong chiến tranh đã được tìm thấy bằng phương pháp “trao đổi thông tin giữa hai thế giới – nói chuyện với linh hồn”. 
Trong hành trình này, ngoài hình ảnh dấn thân của các nhà khoa học vào lĩnh vực nhạy cảm, không “hoa màu”, còn là mồ hôi, nước mắt và tuổi trẻ của không ít các nhà ngoại cảm đã băng rừng vượt suối đến tận thâm sơn cùng cốc – Tất cả, vì chân lý, họ đã vượt lên chính mình, vượt qua thị phi và rào cản tư duy cũ. Và trên hết là thời thế đã tạo điều kiện cho khoa học ngoại cảm Việt Nam phát triển, trong đó có sự cổ vũ từ các tướng lĩnh (như Đại tướng Võ Nguyên Giáp…), nhà chính trị (như nguyên TBT Lê Khả Phiêu…), lãnh đạo Nhà nước (như PTT Phạm Gia Khiêm), nhà lý luận cao cấp (như GS Vũ Khiêu…), nhà quản lý khoa học cấp Nhà nước (như GS.VS Vũ Tuyên Hoàng...), và các cơ quan cấp Bộ, Tỉnh, Thành, cùng hàng nghìn người dân tham gia, chứng kiến, ủng hộ nền khoa học ngoại cảm non trẻ của nước nhà. Đặc biệt trong đó có sự sát cánh của Viện khoa học hình sự-Bộ Công An từ những test ADN đầu tiên: Phải chăng đây là nhân duyên đã được gầy dựng từ thời cụ Trưởng Cần? Và không thể không nhắc đến một số sự kiện mang dấu ấn thời gian, tính khai mở thể hiện mối lương duyên giữa khoa học và tâm linh ở các cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ của TS Bùi Văn Sướng, GS.TS Trần Phương, GS.TS Đặng Vũ Quang Huyễn và nhiều gia đình của các nhà khoa học/tướng lĩnh/cán bộ cao cấp khác. 
Trong khuôn khổ bài viết chúng  tôi không thể kể hết. Quý vị có thể tham khảo tài liệu đã được CIHC-IHP và chúng tôi phát hành. Trong đó, lời phát biểu của GS.TSKH Phan Anh giám đốc CIHC (nay là CTHĐV kiêm CTHĐKH viện IHP) nhân dịp kỷ niệm 15 năm thành lập CIHC, được xem là một kết luận của giới khoa học về những nghiên cứu khoa học ngoại cảm ở Việt Nam vào thời điểm 11/2011: “Thành quả lớn nhất mà Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người đã đem lại sau 15 năm qua không phải chỉ là con số những đề tài nghiên cứu, những hoạt động triển khai ứng dụng đã thực hiện mà chính là ở những kết luận khoa học đã đúc kết được. Trong số đó, đáng lưu ý là những kết luận có nội dung liên quan đến sự tồn tại của một ‘thế giới vô hình’, về mối quan hệ qua lại giữa ‘hữu hình’ và ‘vô hình’. Điều này có thể dẫn đến những sự thay đổi về tư duy của con người trong xã hội. Nhiều hiện tượng trước đây được coi là ‘mê tín, dị đoan’ thì nay được nhìn nhận lại dưới góc độ khoa học.[5]

3. ỨNG DỤNG
Từ xa xưa người châu Á, đặc biệt ở vùng đất Ấn-Tạng đã biết ứng dụng ngoại cảm trong cuộc sống. Ở đấy, những người may mắn tự nhiên có được khả năng ngoại cảm xem như lộc trời cho, họ dùng khả năng này để mưu sinh; thường được dân gian gọi là thầy bói, nhà huyền thuật, “phù thủy”,… Song song với lớp người này là những người có công năng ngoại cảm cao hơn nhờ tu luyện; họ thường ẩn cư trên núi, và được các bậc minh quân tìm đến học hỏi, xin ý kiến – họ là những chân sư/minh sư/tiên sinh/arahant (la-hán). Một danh sách 500 vị Arahant ghi trong tác phẩm “500 VỊ LA HÁN” (NXBHN.2009) ở thời đức Phật có thể được xem là 500 chân sư chuyên ngành ngoại cảm được đức Phật đào tạo cho nhân loại. 
Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận có nhiều chân sư, như các thiền sư Khuông Việt, Vạn Hạnh, Minh Không, Thường Chiếu, Trần Nhân Tông, Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường, Thích Quảng Đức,.. và hàng chục nhà ngoại cảm ở cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21, như Đỗ Bá Hiệp, Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Thị Nghi, Đoàn Việt Tiến, Vũ Minh Nghĩa, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Đức Phụng, Phạm Thị Phú, Dương Mạnh Hùng, Nguyễn Khắc Bảy, Hoàng Thị Thiêm, Lê Trung Tuấn, Vũ Thanh Bình, Trần Thị Anh Thơ, Trần Lệ Giang... cho thấy, một Việt Nam nhỏ bé không thiếu những người có khả năng biệt, thì thế giới cũng có những người này, rất nhiều là đằng khác. Ngay như châu Âu và Bắc Mỹ, vốn không phải là cái nôi của thiền, ngày nay đã xuất hiện nhiều thiền sư đắc đạo nhờ công cuộc hoằng pháp của các chân sư đến từ phương Đông vào thế kỷ 19. 
Ở đâu, lúc nào cũng thế, bên cạnh những người có khả năng ngoại cảm thực sự, luôn xuất hiện những người tự nhận mình cũng có khả năng để lừa bịp kiếm tiền; số ảo này thường đông hơn số thực. Đến thời nay, tại Việt Nam, bên cạnh nhà ngoại cảm thật có cả nhà ngoại cảm giả. Trong số nhà ngoại cảm thật xuất hiện lớp người ưu tú làm việc có tâm có đức được xã hội gọi là nhà ngoại cảm chân chính: Họ được nhà nước, tổ chức khoa học tặng thưởng huân chương, bằng khen ghi nhận thành tích chữa bệnh, tìm hài cốt liệt sĩ; được địa phương tạo điều kiện để có thể cống hiến nhiều hơn. Thế nhưng, ngược lại ở những nơi xa trung tâm nghiên cứu, ánh sáng khoa học ngoại cảm chưa chiếu tới, không ít người còn bỡ ngỡ băn khoăn chưa nhận ra: NGOẠI CẢM NAY ĐÃ THUỘC VỀ KHOA HỌC. Họ vẫn cho rằng ngoại cảm là hiện tượng mang màu sắc hoang tưởng/mê tín, nên nảy sinh cách xử lý cực đoan làm người dân bị thiệt thòi, không thể tiếp cận các nhà ngoại cảm để chữa bệnh; còn nhà ngoại cảm thì đột nhiên bị phân biệt, cách ly.
Ngày trước nhân gian bảo “đi xem bói”, hôm qua có người nói “thử áp dụng khả năng ngoại cảm”, hôm nay nhờ vào những NCKH về ngoại cảm, chúng ta có thể nói “ứng dụng khoa học ngoại cảm” ở một số nội dung sau: 
  1. Ứng dụng công năng “nói chuyện với linh hồn” để tìm hài cốt thất lạc; tìm cổ vật; tìm tội phạm; kiểm chứng dữ liệu quá khứ;..
  2. Ứng dụng công năng “chữa bệnh bằng năng lượng – chữa bệnh không dùng thuốc” để chữa bệnh (hiểm nghèo);
  3. Ứng dụng kỹ thuật thiền để chữa bệnh tâm thần, bệnh hiểm nghèo, tăng cường sức khỏe;
  4. Ứng dụng kỹ thuật khai mở luân xa, ngồi thiền để có thể tự đào tạo thành nhà ngoại cảm;
  5. Ứng dụng các tiêu chí của khoa học ngoại cảm để xác định khả năng ngoại cảm của một người nào đó (phân biệt người có năng lực ngoại cảm yếu/mạnh/tự huyễn/giả mạo;
  6. Ứng dụng công năng “dự đoán/dự báo/tiên tri” để tránh hiểm họa… và những ứng dụng khác.
Có thể thấy rằng, khoa học ngoại cảm còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Ở Việt Nam, các nhà khoa học CIHC/IHP/UIA đang quan tâm và phát triển lĩnh vực “i đến v” bởi thời gian qua đã xuất hiện nhiều người có khả năng ở các lĩnh vực này. Riêng lĩnh vực “iv”, bên cạnh các trung tâm dạy thiền trong xã hội còn có những nơi tu thiền của Phật giáo. Hàng năm không rõ có bao nhiêu Phật tử/nhà sư thành công, nhưng chắc chắn là có. Những thiền sư đắc đạo này không ồn ào như chúng ta thường thấy trong đời; họ lặng lẽ sử dụng công năng thiền định để tiếp tục cuộc hành trình đã định. Tôi trộm nghĩ, những ai có chút gặt hái sau các khóa học thiền bên đời và muốn trở thành nhà ngoại cảm để giúp thiên hạ thì có thể tiếp tục “du học” sang thiền Phật giáo. Hoặc, các nhà khoa học Việt Nam có thể gửi học viên của mình đến các trung tâm thiền Phật giáo trong nước, nước ngoài như Ấn Độ để trở thành nhà khoa học siêu việt (nhà khoa học có khả năng thiền định).

Top of Form
Bottom of Form
4. Ý NGHĨA
Có thể nói rằng, ngoài những người có sẵn khả năng đặc biệt “trời cho”, từ xa xưa đã tồn tại những “lò” đào tạo người có khả năng đặc biệt. Điển hình cho việc làm bài bản này là các thiền viện ở Tây Tạng. Ở đấy, những Lạt-ma được chọn vào những lớp học đặc biệt để đào tạo theo phương pháp bí truyền: Họ có thể xuất vía (hồn) khỏi thể xác để chu du về quá khứ, nhận ra những sự kiện từng làm chấn động quả đất. Tương tự, ngày nay các bác sĩ phương Tây như Brian L.Weiss của Mỹ đã sử dụng phương pháp thôi miên đặc biệt đưa bệnh nhân du hành qua các vùng tâm thức, tìm thấy nguyên nhân căn bệnh từ kiếp trước. Việt Nam đang hiện diện nhiều nhà ngoại cảm có thể giải quyết nhu cầu của nhân dân theo các nội dung ỨNG DỤNG đã nêu. Muốn biết họ, quý vị cần liên hệ các cơ quan khoa học CIHC/IHP/UIA. 
Trong số các nhà ngoại cảm hiện nay, phần nhiều có công năng “nói chuyện với linh hồn”. Đây là một thuận lợi lớn để chúng ta có cơ hội trải nghiệm một lần trong đời về sự tồn tại của linh hồn khi trực tiếp tham gia vào một sự kiện, như tìm hài cốt liệt sĩ chẳng hạn. Từ đây tiếp tục bổ túc kiến thức để nhận biết thế giới song hành, các loài chúng sinh có trong vũ trụ – đó là nơi ta sẽ đến/trở về sau ngày “hai năm mươi”, mà theo TheB (Theory of Buddha) chỉ có thể là một trong những nẻo đường sau:
-        Một, quay trở lại đầu thai làm cư dân hạ giới (chúng sinh hữu hình: con người/súc vật);
-        Hai, trở thành cư dân trung giới (chúng sinh vô hình: hương linh/ngạ quỷ,..);
-        Ba, trở thành cư dân thượng giới (chúng sinh vô hình: các vị trời);
-        Bốn, trở thành cư dân thoát khỏi vô minh (chúng sinh vô hình giác ngộ - các vị Phật);
-        Năm, vĩnh viễn trở thành cư dân thoát khỏi vô minh (chúng sinh vô hình giác ngộ bậc đại Bồ-tát) đi thuyết giảng TheB khắp vũ trụ cùng các vị PHẬT TOÀN GIÁC (Sadibotat).
Vì vậy có thể nói, công dụng của khoa học ngoại cảm là hết sức to lớn, đem lại lợi ích cho con người và cho xã hội. Nó không hề viển vông, có thể làm thay đổi tư duy, nhận thức. Là cơ sở để chúng ta tiếp cận minh triết TheB bằng con đường khoa học đã được Albert Einstein chỉ ra từ những năm 30 của thế kỷ XX. 



[1] Kỹ sư, Nhà nghiên cứu
[2] Trước đây theo chỉ đạo của cấp trên, các kết quả nghiên cứu về tâm linh của Trung tâm NCTNCN và Viện NC&UDTNCN chưa được phép công bố
[3] Nguyễn Phúc Giác Hải, Ngyễn Tài Đức, Nguyễn Đức Cần- Nhà Văn hóa tâm linh, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2013
[4] Sách đã dẫn
[5] Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, Gặp gỡ giao lưu giữa các nhà nghiên cứu và những người có khả năng đặc biệt ngày 26/11/2011).

VĂN HÓA TÂM LINH TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI


Bài đăng ở Kỷ yếu HNKH toàn quốc lần 1 về "Nghiên cứu và ứng dụng KNĐB của con người" tháng 0/2016 do Viện NC&ƯD tiềm năng con người đăng cai tổ chức.

VĂN HÓA TÂM LINH TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
Nguyễn Văn Cương[1]
Nếu như khái niệm văn hóa đã nhận được tới gần 400 cách giải thích khác nhau thì khái niệm Văn hóa tâm linh cũng đã nhận được rất nhiều cách định danh không nhất quán do nội hàm vấn đề và tính phức tạp của nó. Thậm chí, do tính lịch sử, tính thời đại chi phối, những vấn đề về tâm linh còn chịu nhiều thăng trầm hơn. Và, phải đến những năm cuối của thế kỷ XX, thuật ngữ tâm linh và văn hóa tâm linh mới được công khai thừa nhận ở Việt Nam như một sự tồn tại tất yếu. Nó trở thành một yếu tố cấu thành và làm hoàn thiện con người. Một con người với sự phát triển đầy đủ được nhìn nhận trên các phương diện: con người sinh học, con người xã hội, con người tâm lý và con người tâm linh. Một trong bốn phương diện ấy không ổn định, tất yếu sẽ dẫn đến sự bất ổn của con người. Mỗi sự bất ổn của con người đều hàm chứa khả năng ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của xã hội. Do vậy, một xã hội nhân văn là xã hội luôn tạo cơ hội và điều kiện để con người có thể được phát triển đầy đủ nhất trên cả bốn phương diện này.
Xét duy danh khái niệm thì Tâm linh được cấu thành bởi hai từ : Tâm và Linh mang nghĩa để chỉ những điều thiêng liêng, linh thiêng trong tâm thức của mỗi con người. Nó hàm chứa cả những điều mang tính hiện thực, được chứng minh trong hiện thực nhưng ảnh xạ của nó trong tâm thức mỗi người lại không còn hoàn toàn nguyên nghĩa như nó vốn có. Tuy nhiên, phần lớn nội hàm khái niệm của nó lại hàm chứa những điều mà con người còn chưa biết hết, chưa giải thích, cắt nghĩa đầy đủ được về nó. Vì thế, ở một góc độ nhất định, tâm linh là lĩnh vực khác với khoa học. Khoa học mang xu hướng giải thiêng, luôn tìm cách giải thích bản chất những hiện tượng thiêng để trả hiện tượng đó về với bản chất hiện thực của nó. Tâm linh lại thể hiện một hướng đi ngược lại, theo đó, các hiện tượng chưa biết và đã biết đều có xu hướng được thiêng hóa, linh hóa*. Mâu thuẫn giữa khả năng hữu hạn của con người với mong muốn vô hạn là giải thích được mọi hiện tượng xung quanh chính là cơ sở quan trọng để các hiện tượng tâm linh và nhu cầu cân bằng tâm linh hình thành trong xã hội truyền thống và sẽ tồn tại trong xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình, khoa học đã và đang mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các vấn đề tâm linh, giải thích các hiện tượng tâm linh. Khái niệm Khoa học Tâm linh đã bắt đầu tạo được những ảnh hưởng nhất định. Khoa học muốn giải thích cơ sở của các hiện tượng tâm linh và cũng đã có những giải thích được xã hội chấp nhận. Song, sự giải thích, cho dù mang cơ sở khoa học rất cao cũng không thể phủ nhận được những hiện tượng tâm linh và cũng không hoàn toàn hướng đến mục đích đó. Khoa học chỉ hỗ trợ và tường minh thêm các hiện tượng mà trước đó con người hoàn toàn không hiểu về nó và rất dễ có xu hướng hành động cực đoan khi tiếp nhận nó. Khoa học, trong mọi nỗ lực của mình chắc chắn không thể giải thích hết, khám phá hết và minh bạch hóa toàn bộ các hiện tượng trong niềm tin tâm linh của con người.
Trong khi đó, thực tế cuộc sống không thể phủ nhận được một sự lan tỏa của các hiện tượng vốn được xem là hiện tượng tâm linh sang những vấn đề của khoa học. Những lời tiên tri đã được chứng minh bằng thực tế mà khoa học chỉ có thể thừa nhận là cần phải nghiên cứu thêm; những khoảnh khắc xuất thần trong nghiên cứu hay phát minh sáng tạo mà chính những nhà phát minh ấy cũng không thể lý giải nổi. Nhiều nhà khoa học, nhiều nghệ sĩ sáng tạo cũng xem sự xuất thần đến với mình như một biểu hiện của sự trợ giúp, của sự may mắn được tạo ra từ những lực lượng mà mình không giải thích nổi.
Ở một góc độ khác, tâm linh được nhìn nhận như một tổng thể các hiện tượng có khả năng gắn kết quá khứ, hiện tại và tương lai. Những gì có thể gắn kết  ba phạm trù này đều được xem là hiện tượng tâm linh. Những hiện tượng về thế giới người đã mất, về tổ tiên, về truyền thống, về thần linh,về cội nguồn thủy tổ của dân tộc, của dòng họ (thuộc quá khứ) ; những hiện tượng tiên tri, dự báo, chỉ dẫn, cầu mong, vận hạn (thuộc tương lai) ; những khả năng đặc biệt của con người, những tác động bí ẩn của thiên tai và thảm họa (trong thế giới thực tại)... đều được xem là hiện tượng tâm linh. Văn hóa tâm linh là sự biểu hiện bằng hành vi ứng xử trước những vấn đề đa dạng, phức tạp và có nội hàm rất rộng như vậy.
Hiểu về tâm linh theo nghĩa đó, rất dễ có thể thấy, tâm linh tuy ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực của đời sống nhưng rõ nhất và gần gũi nhất chính là tới tôn giáo tín ngưỡng.
Cho dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo - tín ngưỡng nhưng xét về bản chất, tôn giáo tín ngưỡng là một hình thức thể hiện niềm tin vào cõi thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở trình độ phát triển xã hội cụ thể. Nó được hình thành trên cơ sở đại đa số người trong hoàn cảnh phức tạp, nan giải: hoặc lo sợ, hoặc hoài nghi, hoặc hưng phấn, thông qua cảm thụ sức mạnh của thần thánh mà dần dần ý thức được thần thánh phản ứng hay phản tác dụng... họ tin tưởng chắc chắn loại sức mạnh này có thể đổi mới cuộc sống của chính mình. Vì vậy, nó gần nghĩa nhất với các hiện tượng tâm linh. Vẫn trên quan điểm duy danh định nghĩa thì tâm linh (niềm tin vào những điều linh thiêng) và tín ngưỡng (tín = tin, ngưỡng = ngưỡng mộ, tin tưởng, sùng kính) vốn rất gần nhau. Yếu tố niềm tin này khi được quy phạm hóa, hệ thống hóa sẽ hình thành các tôn giáo. Do vậy, văn hóa tâm linh có sơ sở hình thành giống như cơ sở hình thành tôn giáo tín ngưỡng. Nó được thừa nhận và chứng minh là một hình thái ý thức xã hội, có cơ sở xã hội và lịch sử để hình thành, nó mang bản chất xã hội, giá trị thực tế và mang khả năng cân bằng nhu cầu tinh thần của con người.
Với bản chất đó, văn hóa tâm linh trong truyền thống đã thực sự mang những vai trò không thể phủ nhận bởi những giá trị tích cực của nó. Chưa nói đến những tôn giáo lớn có ảnh hưởng bao trùm trên toàn thế giới, chỉ những hiện tượng tín ngưỡng có ảnh hưởng trong phạm vi một khu vực cũng đã được chứng minh về ý nghĩa tốt đẹp của nó đối với sự phát triển của xã hội và nhân cách mỗi cá nhân. Một trong những hình thức tín ngưỡng của người Việt có ảnh hưởng mạnh trong đời sống tâm linh chính là việc thờ cúng tổ tiên.
   Thờ cúng tổ tiên là nghi thức tâm linh thể hiện quan niệm của con người về thế giới, theo đó, có một thế giới khác sau khi con người chấm dứt tồn tại thể xác. Thế giới đó có mối quan hệ gắn kết với thế giới hiện thực trong quan hệ hai chiều: con người ở thế giới hiện thực thể hiện tình cảm với người đã khuất và những người đã khuất có ảnh hưởng nhất định đến thế giới hiện tại. Một trong những ảnh hưởng có thể kiểm chứng ngay của những người đã khuất đến thế giới hiện tại là góp phần điều chỉnh, giáo dục con người thông qua hành vi thờ tự. Thờ cúng tổ tiên là nghi thức mang hiệu quả đặc biệt trong việc giáo dục chữ Hiếu, chữ Nhân, chữ Lễ, chữ Tâm là những phẩm chất cần thiết nhất để con người có thể được xem là hoàn thiện trong nhân cách.
Gia đình truyền thống của người Việt được hình thành trên cơ sở phương thức sản xuất nông nghiệp. Trên nền cảnh của sự hạn chế về khoa học kỹ thuật, phương thức sản xuất này phụ thuộc rất nhiều vào yếu yếu tố thời tiết, khí hậu, môi trường.... những yếu tố mà con người không thể chủ động điều chỉnh theo ý muốn. Sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến sản xuất nông nghiệp lớn đến mức người ta tin tưởng rằng, dường như, việc đạt được năng suất cao trong một vụ sản xuất là một điều may mắn, nằm ngoài sự cố gắng của con người. Những may mắn ấy đến được nhờ hàng loạt những yếu tố hỗ trợ, trong đó có việc con người đã ứng xử với thần linh, tổ tiên như thế nào để có thể được nhận sự giúp đỡ. Với lối tư duy hết sức thực dụng của mình, người nông dân thờ cúng tổ tiên có cơ sở sâu xa từ những đòi hỏi của nền tảng kinh tế, với hy vọng thần linh, tổ tiên sẽ giúp con người gặp nhiều may mắn hơn.
Gia đình người Việt được vận hành theo chế độ phụ quyền, việc thờ cúng tổ tiên còn mang đậm yếu tố gắn kết cộng đồng huyết thống, đề cao vai trò và ảnh hưởng của người cha. Đây là cơ sở tâm linh và xã hội quan trọng của việc phụng thờ Vua Tổ của người Việt. Theo chiều cạnh ngược lại, việc phụng thờ Vua Tổ vừa mang ý nghĩa gắn kết cộng đồng dân tộc, vừa củng cố vững chắc hơn tính kỷ cương trong gia đình phụ quyền. Mục đích chung của thờ cúng tổ tiên trong gia đình và Vua Tổ của một Đại gia đình đều là để thể hiện sự biết ơn công lao tổ tiên, cầu mong cho linh hồn tổ tiên được siêu thoát và mong được tổ tiên phù hộ cho con cháu gặp nhiều điều tốt lành, may mắn trong cuộc sống.
Khi tạo được đường dây liên hệ linh thiêng  này, việc thờ cúng tổ tiên đã trở thành một hình thức giáo dục mà thông qua đó, con người tự giác thực hiện theo những nội dung giáo dục mà gia đình muốn đạt tới.
Như vậy, xét trong một minh họa cụ thể là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thì cũng đã có thể thấy, các hiện tượng thuộc lĩnh vực văn hóa tâm linh đã có những cơ sở lịch sử, văn hóa, tâm lý, xã hội để hình thành. Những ảnh hưởng tích cực của nó đến cuộc sống của con người là không thể phủ nhận, nó được khẳng định như một trong những giá trị vĩnh hằng để nhận diện và đánh giá mức độ hoàn thiện của con người. Trong bối cảnh một nền tảng xã hội nông nghiệp, khi thông tin và trình độ nhận thức của con người còn hạn chế, các hiện tượng tâm linh chi phối mạnh đời sống của con người là một tất yếu.
Khoa học đã có nhiều giải thích về cuộc sống của con người sau khi chết. Nhận thức của con người về cái chết và thế giới ngoài con người cũng đã có nhiều cơ sở để được xem xét một cách toàn diện hơn. Tuy nhiên, sự giải thích của khoa học không hướng tới việc phủ nhận niềm tin của con người vào sự linh ứng trong sự trợ giúp của tổ tiên. Nhận thức của con người dù có được nâng cao, cái chết và thế giới bên kia dù đã được tường minh hơn thì việc thờ cúng tổ tiên vẫn mang giá trị đặc biệt.
Giải thích thực tiễn này, tác giả P. Poupard đã viết: « Một số người đã từng cho rằng, thời hiện đại tiến triển kèm theo sự lụi tàn của tình cảm tôn giáo. Không phải như vậy, thời hiện tại giải mê vỡ mộng, do khoảng cách gia tăng giữa vô hạn ham muốn của con người với hữu hạn tồn tại của chính nó, giữa vô tận khát thèm hạnh phúc với gánh nặng tai hoạ tất yếu, giữa ý chí tham sống với tin chắc sẽ chết, đang tự tìm kiếm những lý do, lý lẽ mới để hy vọng »[i]
Do vậy, sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng vẫn mang ý nghĩa cân bằng nhu cầu tâm linh, một nhu cầu không hề giảm của con người trong xã hội hiện đại. Đối diện với quá nhiều gánh nặng và sự may rủi, con người hiện đại tìm thấy ở tôn giáo, tín ngưỡng một điểm tựa an toàn. Ở đó, con người cảm thấy yên tâm vì được che chở. Cũng không thể phủ nhận rằng, chính niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng sẽ góp phần điều tiết những bất ổn trong xã hội, bởi khi có đức tin, loại trừ sự cực đoan, hành vi của con người sẽ trở nên có mức độ hơn. Họ sợ một sự trừng phạt sẽ đến.
Tuy nhiên, chính những tác động mạnh mẽ của các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng nói riêng, các hiện tượng tâm linh nói chung đến đời sống mà chúng ta đang phải chứng kiến những biểu hiện thái quá trong sinh hoạt văn hóa tâm linh của con người đương đại. Nếu như trong truyền thống, do quan niệm con người khi chết sẽ biến thành ma, phải có người thờ cúng, mới trở thành ma lành, phù hộ cho con cháu; nếu không thì sẽ biến thành dữ, đi lang thang đây đó nên việc thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa quy tụ các con về ngành trưởng để cùng nhau thờ cúng bố mẹ. Sự quy tụ này mang ý nghĩa giáo dục khi nó gắn kết con cái với nhau giống như khi bố mẹ còn sống. Ý nghĩa thiêng liêng này đang bị hiểu lệch, dẫn tới việc ở nhiều nơi, con cái xem việc tự cúng giỗ cha mẹ mới là phù hợp vì con nào càng chu tất về lễ thì cha mẹ càng vui lòng và phù hộ nhiều hơn, lại tránh được mâu thuẫn anh em trong quan điểm cúng giỗ. Khi không còn chuẩn chung, mỗi nhà xem việc cũng giỗ ông bà cha mẹ như một dịp sinh hoạt tâm linh của riêng mình, nhiều thái quá trong biểu hiện đến mức trở thành bất thường, gây bức xúc trong gia đình, gia tộc và cả trên phương diện xã hội đã xuất hiện.
Cũng vậy với những hiện tượng kỳ lạ trong khả năng của con người và sự tác động của tự nhiên. Những năng lực tiềm ẩn trong con người cũng như sức ảnh hưởng khủng khiếp của các hiện tượng tự nhiên mà khoa học chưa khám phá được hết sẽ tồn tại như một tất yếu. Điều này, một mặt điều chỉnh hành vi con người nhưng mặt khác cũng lại tạo ra vấn đề còn nhiều tồn nghi. Gây nhiều tranh cãi nhất hiện nay trong lĩnh vực này vẫn là vấn đề áp vong tìm mộ. Thực tế cho thấy, hiệu quả của hoạt động này là có thật, nó chứng tỏ những tiềm năng đặc biệt trong những con người đặc biệt. Cho dù khoa học đã và đang kiếm tìm những minh giải thỏa đáng nhất nhưng cũng vẫn phải có những nhượng bộ nhất định. Nó nhanh chóng được lan tỏa trong xã hội vì chạm được tới một nhu cầu rất đỗi mãnh liệt của những người còn sống muốn tri ân người đã mất. Tuy nhiên, sự nở rộ đến mức ở một số nơi, việc này đã trở thành một hoạt động dịch vụ, kinh doanh để kiếm tìm lợi nhuận, thậm chí gây ra những hệ lụy cho người bị áp vong về thể chất và tinh thần đang khiến dư luận đặt ra nhiều dấu hỏi. Những biến tướng và sự lạm dụng nhu cầu cân bằng tâm linh của con người đang là điểm đen trong sinh hoạt văn hóa tâm linh nói riêng, sinh hoạt xã hội nói chung.
Kinh tế thị trường, với một thực tế không thể phủ nhận được là luôn hàm chứa những khả năng thay đổi cuộc sống con người một cách nhanh chóng. Có những người có thể giầu lên rất nhanh nhưng cũng có người trong thời gian ngắn trở thành bần hàn. Kinh tế học gọi đó là hiện tượng đi thuận hay đi ngược so với quy luật kinh tế, nắm bắt kịp hay không kịp với nhu cầu của thị trường...Cho dù vậy thì đại đa số người dân vẫn tin rằng: có một sức mạnh huyền bí khác có thể can thiệp vào quy trình này, điều tiết đồng tiền trong kinh doanh của họ. Cở sở niềm tin này trong xã hội hiện đại càng cộng hưởng với những cơ sở tâm lý khác để đẩy cao nhu cầu thỏa mãn đời sống tâm linh. Các sinh hoạt tâm linh ngày càng có xu hướng phát triển. Mặt tích cực là không thể phủ nhận nhưng những tác động tiêu cực của nó đang ngày càng khiến không ít người hoài nghi về giá trị của hình thức sinh hoạt văn hóa nhạy cảm này. Vấn đề vẫn nằm ở nhận thức của con người.Văn hóa cá nhân là khái niệm dường như chưa được xã hội chú ý nhiều lắm do những vấn đề của lịch sử nhưng rõ ràng là đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết hành vi ứng xử của mỗi người, đặc biệt là trong bối cảnh thông tin toàn cầu rộng mở như hiện nay.
Văn hóa tâm linh là một hình thái ý thức xã hội, nó hình thành trên cơ sở những điều kiện kinh tế, tâm lý, lịch sử, văn hóa nhất định, nó trực tiếp chi phối hành vi ứng xử của mỗi cá nhân, thông qua quan niệm tiếp nhận của mỗi cá nhân, nó mang dấu ấn cá nhân khá rõ nét nhưng lại là hiện tượng có khả năng lan tỏa trong cộng đồng rất nhanh chóng. Để sinh hoạt tâm linh thực sự giúp con người phát triển toàn diện, rất cần những định hướng, sao cho bản thân mỗi người có thể chủ động hành vi và có thể kịp thời dừng lại trước những giới hạn nhất định. Điều này tuy rất khó đối với các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý nhưng là yêu cầu bắt buộc phải làm để các sinh hoạt tâm linh thực sự chỉ mang đến những tác động tích cực, giúp con người cảm thấy an toàn và cân bằng hơn./.


[1] PGS TS  Hiệu  trưởng Trường Đại học Văn hóa