Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

HỌ BÙI XÃ XUÂN ÁNG - HẠ HÒA - PHÚ THỌ

Quê tôi nằm bên bờ sông Hồng một xã vùng sâu, vùng xa khó khăn và nghèo của huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ. Quê tôi có nhiều truyền thuyết về bà Âu Cơ như di tích Ba nền ở đỉnh núi Ông, khe Đá mài, khe Đá thờ vv. gần với ao trời giếng tiên và đêng thờ bà Âu Cơ. Quê tôi có giầu truyền thống mở đất giữ làng từ thủa khai sinh lập xã.

Ngày xưa xã có bia ghi công đức của các họ lập làng đến những năm 1858-1880 đội quân của Lưu Vĩnh Phúc bị triều đình Huế không cung cấp lương thực (Vì hiệp ước bán nước của triều đình Huế) phải đi cướp bóc để về nước (gọi là quân cờ đen hay giặc cờ đen) các cụ đem bia chôn dấu vì bia có ghi tên các cụ lập làng. Nên bia sau này tìm nhưng không thấy chỉ còn lại chân bia là con rùa đá diện tích 45x60. Trong kháng chiến chống Pháp đoàn văn hóa kháng chiến của các văn nghệ sĩ có tên tuổi như ông Tô Ngọc Vân,  Song Kim, Phạm Thế Mĩ, Nguyễn Xuân Khoát... đã ở nơi đây. Xuân Áng là xã Anh hùng trong kháng chiến. Tuy vậy nhưng còn nghèo và có thể nói là trên moi phương diện.
*
***
         Khoảng cuối năm 2004 tôi có nhặt được một bài báo nhan đề là " Phả học là một khoa học nghiên cứu về các dòng họ" vì có một em học sinh dùng tờ báo đó làm bao sách. Nên không biết báo nào. Nội dung báo là một cuộc phỏng vấn của phóng viên (phóng viên không đề tên) với tiến sỹ Mai Hồng.

             Bài báo viết như sau "tiến sĩ Mai Hồng giám đốc trung tâm Phả học Việt nam đã dành cho chúng tôi một cuộc trao đổi"
            Phóng viên: Thưa ông Việt nam có 45 dân tộc, có bao nhiêu dòng họ lớn. Sự ra đời của trung tâm bộ môn phả họ cụ thể vấn đề này? thời gian tới của việc T.T.là gì?
            Tiến sĩ Mai Hồng trả lời nhiều. Trong đó có đoạn tôi (Phóng viên) lưu ý "Trước mắt trong năm 2004. Chúng tôi sẽ dịch khảo đính xuất bản gia phả họ Bùi, do Bùi Phổ biên soạn (500 trang) dịch và giới thiệu 700 thần phả (500 trang)".
             Tôi đã đưa bài báo đó cho anh tôi (Bùi Hữu Bỉnh) xem để tìm kiếm đón nhận các thông tin về họ Bùi. Sau đó tôi được cháu tôi chuyển cho tôi các tập san ban liên lạc họ Bùi Việt Nam.   
            Tôi rất phấn khởi say sưa đọc nhiều lần, càng đọc càng thấy có sức hút mình vào với cội nguồn tổ tiên. Coi các tập san là gia phả gia tộc là bước lội ngược dòng tìm về cội nguồn.
            Xã Xuân Áng có nhiều chi họ Bùi về hội tụ làm ăn sinh sống như Bùi Hữu, Bùi Văn, Bùi Đình. Mỗi chi họ Bùi đến đất Xuân Áng đều khác nhau về thời điểm, về hoàn cảnh không gian và thời gian khác nhau về hoàn cảnh ra đi. Khi đến Xuân Áng đất rộng mỗi ngươi một nơi ai ở lâu thì nhiều đời, dân số đông, ai đến sau thì ít hộ ít nhân khẩu. Do sự hà khắc của chế độ phong kiến rồi tiếp đến cuộc cách mạng phản phong (cải cách ruộng đất 1953-1957) nó tạo ra sự quan hệ của các dòng họ, thiếu quan tâm tới các cội nguồn. Có những chi mới đến mà không rõ quê hương, có chi biết rõ quê hương mà không tìm về còn do dự mặc cảm điều gì đó. Nhưng có người từ họ khác được ân huệ của họ Bùi Hữu nuôi nấng mà đã chuyển sang họ Bùi Hữu, mặc dù họ gốc vẫn ở quê, Có chi họ gốc là Bùi Văn ở Hà đông khi tới Xuân Áng  được  họ Bùi Hữu nuôi dưỡng các bác bảo rằng" Tổ họ Bùi đây rồi việc gì phải đi tìm đâu nữa" có chi không phải họ Bùi được sự cưu mang của họ Bùi Hữu nên xin phép với gia tộc họ Bùi Hữu được làm nghĩa vụ như người con chính họ Bùi (Nghĩa vụ hiếu hỷ, đóng góp tang lễ, giỗ tết...) nhưng xin phép được giữ nguyên họ cũ vì quê hương không còn họ ấy nữa thật đáng trân trọng. Đó là tình cảm thương yêu của họ Bùi Hữu đối với mọi người hoạn nan như lời nói "HỌ BÙI LÀ ĐẤT LÀNH CHIN ĐẬU "

I- HỌ BÙI HỮU
"trưởng tộc Bùi Hữu Bỉnh"
            Thủy tổ họ Bùi hữu xã Xuân áng là Bùi Hữu Nhân sinh năm 1769 tại thôn Mậu Lương tổng Thanh oai Hà Đông cụ thuộc đời thứ 5 họ Bùi Văn ở làng Mậu lương nay thuộc xã Kiến Hưng thành phố Hà Đông. Họ Bùi Văn mậu lương đến đời thứ 5 thì chia thanh 5 chi mỗi chi tự ghi gia phả tiếp về sau, nhưng vẫn ghi tổ là Bùi Quý Công tự Chân Tính. Trong gia phả có ghi "Nhất chi nhị nam di cư ngụ tại Thanh Ba Phú thọ". Cũng do chiến tranh loạn lạc nhất là sau khi cụ Bùi Hữu Nhân tranh cử chánh tổng đã đắc cử và bị phe thua đã sát hại cụ sau khi nhận chức chánh tổng được 3 tháng từ đó 2 chi này thất lạc mãi tới những năm 1980 chi họ Bùi hữu ở Nga Quán Trấn Yên tỉnh Yên Bái và chi Bùi Hữu Xuân Áng Hạ hòa Phú Thọ mới tìm về với nhau. Năm 1996 mới về thăm quê tổ Mậu lương sau gần 300 năm xa cách và lưu lạc đồng thời xác định phân vai căn cứ vào gia phả ở Mậu lương thì chi Bùi Hữu Xuân áng trưởng va chi Nga quán va chi Mậu lương đã thống nhất về một cội là cụ Chân Tính. Xin trích nhưng lời từ ngữ trong gia phả họ Bùi ở Mậu Lương như sau:
            1- Trong gia phả vào năn 1846 năm Thiệu Trị thứ 6 bản sao năm 1984 "BÙI TỘC PHẢ KY TỰ" mở đầu bằng câu "Ngô tộc chi hữu phổ cổ hĩ nguyên Bùi thị nãi ấp chung chi vọng tộc dã" tạm dịch " Dòng họ ta xưa đã có gia phả họ, Bùi ta là một họ có danh vọng mà nhiều người ước muốn ... và nếu không ghi chép thì sợ rằng không cón chứng cớ đáng tin thế rồi sẽ rối, loạn, sai, lạc. Vả chăng ngày nay việc cưới gả phải tránh sự quá gần hoặc đặt tên con phải tránh trùng tên với bậc trên trước trong họ ...." * "Theo dịch giả người đã dịch đại việt thông sử"
            Ở Xuân Áng các cụ tuy có chức sắc quyền thế trong làng nhưng các cụ vẫn chăm lo việc cho dân cho nước, làm việc thiện như cụ Bùi Hữu khanh làm cầu Lường theo kiểu thượng gia ha trì " trên là nhà dưới là nước"(Lưong xá - Xuân áng) nhân dân thường gọi là cầu ông Lãnh. Năm 1949-1952 chống thực dân pháp thực hiện tiêu thổ kháng chiến nên đã phá đi. Hiện nay nhà nước đào xây cầu đường quốc lộ 32A. Cụ còn làm cầu, chùa làng Phiên quận huyện Cẩm Khuê (quê ngoại) cụ Khanh tham gia phong trào cần vương 1883-1893 được phong làm lãnh binh Bùi Hữu Khanh hàm tam phẩm cụ đã cùng với nghĩa quân và nhân dân xã thu tập 103 hài cốt của các nghĩa quân an táng tại xã Xuân Áng gọi là mộ nghĩa chủng năm 1887. Hàng năm họ Bùi Hữu cúng dỗ vào chiều 23/12 âm lịch. Năm 1965 hợp tác xã nông nghiệp đã san ủi để làm khu chăn nuôi tập thể. Tuy nhiên hàng năm họ Bùi hữu vẫn hưong khói cúng giỗ "mật" khấn 2 thần chủ là đội Trụ (Nguyễn Văn Trụ người làng Xuân lũng huyện Lâm thao tỉnh Phú thọ) và Cai Mưòi (không rõ quê quán ở đâu) cùng các linh hồn các nghĩa sĩ vô danh.
            Quan Lãnh binh Bùi Hữu Khanh khi bị thực dân Pháp giết bọ sấu trong làng và thực dân Pháp cho Cụ và phong trào cần Vương là "giặc cỏ". Khi xưa con cháu cụ nhân ngày giỗ trần ngân rơi nước mắt nghĩ nỗi oan khuất của Cụ không chịu được cụ Bùi Hữu Đoan là cháu cụ lấy khẩu mutkatông bắn 3 phát lên trời mà rằng "Cụ là Tướng bây giờ chúng con có súng Tây bắn để báo cụ biết " ông Trưởng tộc Bùi Hữu Chiểu mà rằng: "Nỗi oan của cụ rồi sẽ có ngày được giải". vậy là nay đã giải nỗi oan cho cụ Bùi Hữu khanh và công nhận cụ là một sỹ phu yêu nước tham gia phong trào cần vương chống thực dân Pháp 1883-1893 được lịch sử tỉnh Vĩnh Phú tại văn bản số 103CV/TG ngày 11-09- 1995đã khảng định cụ là một trong nhiều thân sỹ yêu nước của tỉnh Phú Thọ tham gia phong trào cầm Vương
            Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp đã có nhiều các các bác từ trong chính quyền của chế độ phong kiến đã giác ngộ tham gia các phong trào kháng Nhật kháng Pháp, khởi nghĩa cướp và xây dựng chính quyền cách mạng ở Xuân áng và huyện Hạ Hòa.         
            Năm 1953-1955 cuộc cách mạng "phản phong" cải cách ruộng đất. Họ Bùi Hữu lúc đó co 12 hộ thì 8 hộ bị quy là địa chủ. Trưởng tộc cụ Bùi Hữu Chiểu là địa chủ án 5 năm tù giam, tài sản của các địa chủ bị tịch thu, trưng thu, trưng mua. Năm1957 Đảng và chính phủ ban hành chính sách sửa sai 8 hộ trên được trả lại thành phần cũ là trung nông các tài sản nhà ở trâu ruộng đươc trả lại 1 phần không đáng kể.
            Họ Bùi Hữu xã Xuân áng là một trong 4 họ lập làng tuy vậy nhưng là họ thăng trầm gian nguy chắc hơn hẳn ... Nghĩ về quá khứ của ông cha lòng chúng tôi bao nỗi bùi ngùi thương cảm cho các bậc tiên tổ song chúng tôi tự an ủi tự hào tự động viên mình. Tổ tiên ra đi lập nghiệp trải qua nhiều sóng gió thăng trần mà đã vượt qua để giữ gìn và phát triển dòng tộc luôn một lòng với quê hương đất nước. Nhờ có Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất tổ quốc và công cuộc đổi mới mà họ Bùi hữu xã Xuân áng và họ Bùi Hữu xã Nga quân huyện Trấn yên tỉnh Yên bái mới có điều kiện xum họp găp nhau sau gần 300 năm xa cách vào năm 1986 và đã tìm về quê tổ Mậu lương xã Kiến Hưng thành phố Hà Đông năm 1997 sau 230 năm mới tìm thấy về quê tổ Mậu Lương.          
            Tuy ở vùng sâu vùng xa khó khăn về điều kiện học hành song họ Bùi Hữu xã Xuân áng đến nay đã trường tồn 9 đời hiện có 56 hộ mang họ Bùi Hữu trên 200 khẩu thuộc thủy tổ Bùi Hữu Nhân, hậu duệ của Cụ đã có 1 tiến sĩ 1 thạc sỹ nhiều bác sỹ, kỹ sư. Đại tá, trung tá là cá bộ trung cao cấp trong quân đội và chính quyền và hoạt động chính trị gần 40 đảng viên.
            Tưởng nhớ về tiên tổ những năm gần đây họ Bùi Hữu đã tu sửa được 3 lăng mộ xây dựng 1936 xây mới 1 lăng tổ và 5 lăng tổ chi. Xây xong khu sinh phần nghĩa trang gia tộc Bùi Hữu với diên tích 500m2 (35x15) đựoc xã cho phép. Xây dựng một nhà thờ tổ với diện tích khoảng 400m2 trên đất ông cha đã 9 đời định cư. Khánh thành nhà tổ và có dịp đền ơn đáp nghĩa những nơi đã cưu mang nuôi dưỡng cha ông trong lúc bị hoạn nạn, bị truy sat cả gia tộc như hậu duệ gia đình cụ Đề Mạc, cụ Đế Kiều, ân nhân bảo vệ cất dấu thi hài cụ Bùi Hữu Khanh là hậu duệ cụ Vương Văn Hán....
            Chúng tôi đang tiến hành làm thủ tục xin xã trả lại đất nghĩa trang co 103 mộ tử sỹ nghĩa quân mà cụ Bùi Hữu Khanh và nhân dân xã đã đăp cách đây 122 năm họ Bùi Hữu vẫn  nhằn mục đích để ghi lại công ơn đã hi sinh cho chính nghĩa để giữ gìn dấu ấn tổ tiên để lại, để an ủi linh hồn các tử sĩ để không buồn tủi những gia đình có người thân đã xả thân vì nghĩa lớn, để phát huy và giáo dục lòng yêu quê hưong đất nước tinh thần quật cương của dân ta khi có họa xâm lăng Họ Bùi Hữu ở Xuân Áng mong rằng chính quyền địa phương và các cấp ủng hộ để ám lòng các tử sỹ và các thân nhân qua các chộc kháng chiến vệ quốc.

II- CHI BỌ BÙI VĂN
            Chi họ Bùi Văn do bác Bùi Văn Bảng làm trưởng tộc: tổ phụ Bùi Công Minh ở thôn Bảo lợi xã Xuân áng. Bác Bùi Văn Bảng năm nay 78 tuổi đang cư trú tại thôn bảo lợi khi hỏi về nguồn gốc tổ tiên bác Bảng kể "Quê tôi ở Tứ xã huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, tính đến đời tôi là đời thứ 9 không rõ cụ tổ ở tận đâu tới sinh cư lập nghiệp ở đây. Rồi vì hoàn cảnh người đông đất ít nên cha con tôi và một số anh em lên xã Xuân áng thôn Bảo Lợi làm ăn. Ở dưới quê nghe nói gia phả bị cháy và mối ăn hết chỉ còn lại mảnh giấy Hán tự nói rồi bác đưa tôi một tấm bia chiều dài 20cmx15cm bằng chữ Hán ghi các ngày giỗ tổ va lời cúng. Nội dung tấm bìa gia phả :
            Cao tầng thủy tổ Bùi Công Minh. sinh được 5 người con trai :
            Bác Bảng thuộc chi thư 4.Tổ chi Bùi Công Thanh
            I- Bùi Công Minh                     sinh                  Bùi Công Thanh (chi4)
            II- Bùi Công Thanh       sinh                  Bùi Thế Quyên
                                                                                    Bùi Thế Chi
            III- Bui Thế Chi                        sinh              Bùi Văn Tình
                                                                                    Bùi văn Hùng
            IV- Bùi Văn Tình                      sinh              Bùi Văn Nghiêm
                                                                                    Bùi Văn Trang
            V- Bùi Văn Nghiêm         sinh             Bùi Văn Hoàn
            VI- Bùi Văn Hoàn            sinh             Bùi Văn Phát
            VII- Bùi Văn Phát            sinh             Bùi Quốc Trụ
            VIII- Bùi Quốc Trụ          sinh             Bùi Văn Bảng
            VIV- Bùi Văn Bảng         sinh             Bùi  Văn Biên
            X- Bùi Văn Biên              sinh        1 trai 2 gái
            XI con bác Biên
            Các con cháu thuộc các chi 1,2,3 và 5 ở dưới quê hay lam ăn nơi xa nhưng cứ ngày 23/12 ta hàng năm lại về Tứ xã Lâm Thao dự giỗ tổ chung là Tổ phụ Bùi Công Minh. các chi tự ghi chép gia phả riêng. Tôi lên Xuân Áng chỉ có 1 tấm bìa gia phả do cha tôi đưa lại rồi ghi tiếp trình tự đời cụ Bùi Công minh đến con anh Biên là 11 đời (ở Lâm Thao7 đời) ở xuân áng 4 đời gồm 10 hộ trên 40 khẩu (họ nội) các cụ nói họ Bùi văn ở tứ xã có trên 200 năm tôi suy nghĩ và tự tính cứ 100 năm là 4 đời vậy 11 đời khoảng 225 năm năm nay 2009 - 225 =1784 như vậy cụ Bùi Công Minh đến định cư ở Lâm Thao ở thế kỉ thứ 17.        
            Bác Bảng kể tiếp "Ngày 20/4/2008. Đoàn đại biểu họ Bùi Phú thọ về dự đại hội Cộng Đồng họ Bùi Việt Nam. Ở Tứ xã có bác Hợp bác Tình về dự nhưng chỉ được nghe báo cáo ở hội trường, còn các tài liệu thì chưa được đọc may có tôi ở Xuân áng được tiếp nhận tài liệu là tập san họ Bùi Việt Nam được nhiều hơn. Rất mong được thành lập ban liên lạc họ Bùi Việt Nam ở cấp xã, huyện và tỉnh để nhận được nhiều tin, và xin được mua các tập san họ Bùi Việt Nam. Tôi chân thành cảm ơn họ Bùi Việt Nam.
            Địa chỉ liên lạc của tôi là Bùi Văn Bảng khu 2 xã Xuân áng huyện Hạ hòa tỉnh Phú Thọ.


III- CHI HỌ BÙI VĂN HỮU  
            Trưởng tộc bác Bùi Văn Hữu: Bác Văn Hữu năm nay 85 tuổi hiện đang cư trú tại xã Xuân Áng huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ) kể lại " tên thật là Bùi văn Hữu sinh quán tại xóm trại đô, làng Lại Trì tổng Lại Từ, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, Bố đẻ là Bùi Văn Phú, anh trai là Bùi Văn Phỏng ,Bùi Văn Hứa, Bùi Văn Thức, chị gái Bùi thị Tranh, Bùi thị Nhỡ. Ông trương tộc là : Bùi Văn Nhu.
            Trước CM thang 8/1945 do điều kiện khó khăn về kinh tế còn bị chèn ép của chế độ phong kiến nên cụ Nhu đã đưa ông Hữu và chị gái lên ở  Lâm thao Phú Thọ. Chị và bố mất ở Lâm Thao. Tự mình làm thuê sinh sống hàng ngày năm 1946 ông Hữu lên Xuân áng được cụ Bùi Thị Trang đón nuôi dưỡng nhận làm con nuôi. ông Bùi Văn Hữu lấy bà Nguyễn thị Phúc rồi tự lập nghiệp. Từ đó đến nay ông Bùi Văn Hữu không trở lại quê do điều kiện khó khăn và nghĩ khi về quê anh em không chắc đã nhận ra nhau.
            Ông Hữu ở địa phương đã tham gia các công tác xã như phó chủ nhiệm HTX nông nghiệp chủ tịch ủy ban nhân dân xã nay đã nghỉ " Được tin ban Liên lạc họ Bùi VN thành lập thông tin qua các tập san. tôi viết bản tin này thông qua tập san để gia đình được tìm về với cội nguồn họ Bùi. Nếu anh em chúng tôi còn ở Lại Trì huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình thì thông tin "Bùi Văn Hữu khu 8 xã xuân áng huyên hạ hòa tỉnh phú thọ.
            Tôi Bùi Văn Hữu trân trọng cảm ơn liên lạc họ Bùi VN đã thức tỉnh tôi tìm về cội nguồn.
IV CHI HỌ BÙI VĂN HỖ 
            Bác Búi Văn Hỗ mất năm 1966 khoản trên 40 tuổi không rõ quê quán ở đâu. Bác là một thương binh chống pháp. Sau khi hòa bình lập lại năm 1954 bác Hỗ được nhân dân xã Xuân áng đón về nuôi dưỡng và lấy vợ là Nguyễn Thị Ron sinh được 1 người con trai là Bùi Văn Thịnh. Bác Hỗ bị vết thương tái phát đi viện phú thọ cấp cứu Bác mất tại đó. Bà Ron tái gia anh Bùi Văn Thịnh về ở với ông bà ngoại và dân làng cưu mang. Anh Thịnh trương thành lấy bà Hà thị Hợp người cùng xã. ông bà Thịnh, Hợp sinh được 2 trai và 2 gái rồi ông Thịnh mất nay chỉ còn bà Hợp và 2 trai 2 gái con trai đã lấy vợ con gái đã gả chồng 3 đời đang tồn tại chia thành 2 hộ 9 nhân khẩu.
            Tôi viết bản tin này mong Ban liên lạc Họ Búi VN đăng tin tìm kiếm quê quán bác Bùi Văn Hỗ, biết đâu có chi nào đó lại nhận được con cháu của bác Hỗ một dòng máu thất lạc phần nào an ủi động viên các con cháu bác Hỗ. Địa chỉ khu 8 xã Xuân Áng huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ.



V-  CHI HỌ: BÙI HỮU KHUYÊN
            Năm 1943 bác Khuyên lúc đó khoảng 12 tuổi được cụ Phan Thị Đản người thị xã Phú Thọ đưa lên bán cho cụ Bùi Hữu Chiểu cụ Đản lấy 200kg thóc. Cụ Đản giao lại giấy tờ bán cho cụ Chiểu là "Nguyễn Văn Tuyên người vùng xuôi".cụ Chiểu thấy bác Khuyên tính nết thật thà thông minh nhanh nhẹn nên nhận làm con nuôi và đổi tên thành Bùi Hữu Khuyên từ năm 1943 đến năm 1952 thì bác Khuyên ra ở riêng lập gia đình và công tác địa phương.
            Quá trình bác Khuyên đã tham gia công tác tại xã Xuân Áng như xã đội trưởng phó công an đảng ủy viên, phó chủ tịch UBND xã Xuân Áng bác Khuyên lấy bà Trần thị Ca sinh được 9 người con trai, các con đã trưởng thành có ngưởi tham gia vào quân đội co người là Đảng viên va tham gia lãnh đạo ở địa phương. Hiện nay tứ đại đồng cư 9 hộ khoảng 50 nhân khẩu .
            Cách đây khoảng 10 năm các con bác Khuyên đã có lần về Nam Định Thái Bình để tìm anh em nhưng không kết quả và có nói là tên thật là Bùi Văn Tuyên quê ở Thái Bình. Bác Khuyên tham gia hội đồng hương Thái Bình mong tìm về quê tổ.     
            Bác Khuyên mang họ Bùi ra đi còn nhỏ không nhớ rõ tên làng xóm nhưng cũng có thể nhớ tên và họ bác Khuyên dù họ Bùi hay họ nào đi chăng nữa thì ân nghĩa cưu mang của cụ Chiểu là tình người huyết thống của dòng họ thể hiện uống nươc nhớ nguồn biết tìm về tiên tổ cội nguồn. Biết đâu bà con họ Bùi hay họ nào đó ở Nam Định Hoặc Thái Bình  để tìm thấy người con xa cach trên 60 năm lưu lạc. Bác Khuyên năm nay 80 tuổi  dang mong muốn tìm vê quê tổ ?
            Xã Xuân Áng huyện Hạ Hòa tỉnh Phú Thọ có 5 chi họ Bùi trên 80 hộ khoảng trên 300 nhân khẩu (chỉ tính chủ hộ mang họ Bùi không kể gái) có chi đến trước có mặt ngay từ thủa lập làng, có chi đến sau từ cách mạng tháng 8- 1945 dù đến trước hay sau đều có lý do khách quan, hoặc chủ quan của tưng thời điểm lịch sử đến đất Xuân Áng mảnh đất đầy tình người, đã hội tụ cùng với trên 30 dòng họ khác cần cù lao động để mưu sinh đánh giăc giữ nước và xây dựng đất nước đàng hoàng văn minh giầu đẹp, có điện, đường, trường, trạm đầy đủ. So với các chi họ Bùi trong cả nước chắc còn có khoảng cách. Ở nơi đã an cư lúc nào cũng canh cánh bên lòng nhớ về tổ tiên. Có chi đã tìm về quê tổ nhưng lại muốn tìm về đến cội nguồn của  tiên tổ. Có chi chưa tìm thấy vẫn chưa yên lòng, đó là món nợ huyết thống. Biết nhớ công ơn ngườiđã nuôi dưỡng cưu mang mình trong lúc hoạn nạn mà mình không đền ơn được, đó là cái nợ tình người.
            Nhờ có ban liên lạc họ Bùi Việt Nam thông tin cho các chi họ Bùi trong cả nước đã hướng dẫn tìm về cội nguồn tri ân tiên tôt. Các chi họ Bùi xã Xuân Áng thành tâm:
            1- Phấn đấu hết mình để xứng đáng với lời của Bác học Lê Quý Đôn "Con cháu sinh sôi nẩy nở, Công nghiệp rạng rỡ vẻ vang, từ đời Lê Trung Hưng, kế thế bầy tôi tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà quý hiển nhất chỉ có họ Bùi mà thôi".
            2- Kết nối thành lập ban liên lạc họ Bùi Xã Xuân Áng, của huyện Hạ Hòa, của tỉnh Phú Thọ theo quy ước, điều lệ của Cộng đồng họ Bùi Việt nam theo tinh thần "ĐOÀN KẾT- TƯƠNG TRỢ - PHÁT TRIỂN".
            3- Tôn trọng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân theo đúng tinh thần Họ Bùi Việt Nam phụng sự nhân dân và tổ quốc.
            4- Đề nghị Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam chuyển tập thông tin họ Bùi Việt Nam phát hành các kỳ cho các chi họ Bùi xã Xuân Áng đều đặn để chúng tôi theo dõi có hệ thống theo địa chỉ:
                                                Bùi Kim Duyệt
                                                Khu 6 xã Xuân Áng huyện Hạ Hòa- tỉnh Phú Thọ
                                                Điện thoại 02 103 679 831

                                                                        Bùi Kim Duyệt 81 tuổi
                                                            Hậu duệ thứ 6 của tổ phụ Bùi Hữu Nhân

LƯỢC SỬ HỌ BÙI TRUNG HÀNH

LƯỢC SỬ HỌ BÙI TRUNG HÀNH

Thân thế và sư nghiệp của Tiên Tổ : BÙI CHÚA ĐÔ TƯỚNG CÔNG

         Họ Bùi Trung Hành xưa thuộc phủ Kinh Môn Tỉnh Hải Dương sau là huyện An Dương phủ Kiến Thụy. Theo truyền thuyết đây là dòng họ có mặt đầu tiên đến sinh cơ lập nghiệp khai phá ra vùng đất này. Ngày nay thuộc phường Đằng Lâm Quận Hải An thành phố Hải Phòng. Trung Hành gồm 4 khu dân cư Trung Hành 5,6,7,8 với diện tích trên 100ha, số hộ 1175, 4625 nhân khẩu, chiếm hơn nửa số dân phường Đằng Lâm. Trong đó người dân họ Bùi chiếm trên 300 hộ hơn 1000 nhân khẩu bằng khoảng ¼ số hộ số dân trong các khu dân cư Trung Hành.
          Dựa theo các chứng cứ đáng tin cậy thì cụ tổ họ Bùi có mặt ở mảnh đất này từ cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16 tính đến nay đã được khoảng trên 500 năm.Cụ Tổ có tên:
                                                Bùi Chúa Đô Tướng Công
Hiệu :Hùng uy Tướng Quân
                                                Chức: Thượng Thư Bộ Lại
                                                Tước: Thao Quốc Công
                                                Chính Thất: Tổ Tỷ Quận Phu Nhân
                                                (Đã được liệt vào bậc Danh Thần)
                                                    Ngày giỗ 15 tháng 3 âm lịch
          Cụ Tổ Bùi Chúa Đô ngưòi làng Trung Hành huyện An Dương Phủ Kiến Thụỵ nay là khu dân cư Trung Hành phường Đằng Lâm quận Hải An thành phố Hải Phòng .
          Sinh Thời cụ là một người thông minh lanh lợi. Cụ là môn sinh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (TK XVI ). Là người có tài thao lược học hành giỏi giang trí tuệ hơn người nhưng danh phận của cụ vẫn chưa đạt được theo nguyện vọng. Đã ngoài 50 tuổi mà cụ chưa làm lên sự nghiệp công danh. Nghe và làm theo lời thầy dạy Cụ đã lập được công lớn cụ đã vớt được một người phụ nữ trang phục quan lại. Sau này được tin bên Tàu tìm người phải nhờ đến triều đình Việt Nam. Trong lúc đó Cụ đã báo lên quan trên và được người Tàu xác nhận. Cụ đã được thưởng nhiều đồ vật quý giá qua đó Cụ mới biết được rằng Cụ đã vớt được Thái Phu Nhân của Tổng Đốc Lưỡng Quảng ( Trung Quốc). Được thời cơ thuận lợi Cụ Tổ chúng ta luôn cố gắng rèn luyện học hành sau được Triều Đình trọng dụng. Cụ làm đến chức Thượng Thư Bộ Lại tước phong Thao Quốc Công ngang với phẩm hàm của thầy Trạng Trình (Trích trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm) (Trích từ trung tâm trí thức lạc việt). Với tài thao lược cụ đã góp phần xây dựng mối quan hệ bang giao với Trung Quốc thêm hữu hảo. Chính vì vậy để tri ân công đức của Cụ triều đình 2 nước đã tấn phong và ban thưởng cho cụ rất hậu .
         Cụ tổ chúng ta sinh hạ được 5 người con (4 người con trai và 1 người con gái). Người con trai đầu của cụ học hành thành đạt được triều đình bổ chức: Lương Khê Hầu Bùi Đổ sau này được vua Mạc Đăng Dung quý mến gả em gái là Mạc Thị Huệ hiệu là Khánh Diễm công chúa. Ông Bùi Đổ là người có tài có đức học cao hiểu rộng ông đã được nhà Mạc phong chức Thủ Tướng Lâm Quốc Công (trích trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) ông cũng chính là Cụ Tổ cành Bùi Khắc. Ba người con trai còn lại đều có tài có đức được bổ nhiệm vào các chức quan lại sau khi mất được Vua ban tên chữ là Quý Công và 4 người con trai của Cụ đều được truy phong và chính là Cụ Tổ cuả 4 cành:
(Bùi Khắc - Bùi Quang - Bùi Đức - Bùi Xuân ) Nguười con gái của Cụ tên là Công Nương Bùi Thị Ngọc Xuyến hiệu Thục Rong Bà đã được gả cho ông Vũ Vĩnh Thái là Tiên Tổ họ Vũ Trung Hành. Trong phả tộc cũng như các văn bia đặt tại Mộ Tổ và nhà văn bia tại Đình làng. Còn ghi lại các vị không rõ thứ bậc đều là con cháu của Cụ Tổ chúng ta như:
Thủ Tướng Trấn Quốc Công Bùi Tướng Công hiệu Hoàng Đạt .
Triều Quan Tiến Công Gia tăng đặc tiên Kim Tử Vinh Lộc đại phu Duyên Khánh Hầu Bùi Công Thuỵ chính tín.
Gia tăng đặc tiên Kim Tử Vinh Lộc đại phu Thái Bảo Bùi Công Thuỵ.
Nam Quân Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc Trưởng Phụ sử Bùi Phúc Thọ.
Triều Đông Vệ Ứng Nghĩa Long Tư Trung sĩ - Đô chỉ huy sứ Dịch Trung Bá Bùi Công Thuỵ
Quốc Tử Giám Giam sinh Thủ Tướng Lâm Quốc Công ….
           Lại nói về các họ khác ở làng Trung Hành là người ta lại nói đến Lục Tộc. Qua các văn bia đặt tại Đình Trung Hành (bia bàn định về thay đổi tế lễ hậu của Trung Hành) có nói đến 6 tộc, ngoài họ Vũ ra ta lại thấy bia có ghi:
             
            Khoa tiên tổ     tự Phổ Am   - Cụ tổ bà  Bùi Thị Lục (họ Khoa gốc Mạc).
            Lê tiên tổ         tự Quảng      - Cụ tổ bà Bùi Thị Thường.
            Đỗ tiên tổ         tự Trí Dũng - Cụ tổ bà Bui Thị Hàng.
                                                                                    (bia lập nam 1873)
            Qua các tư liệu trên ta càng thấy rõ dòng tộc họ Bùi Trung Hành có mối quan hệ máu thịt với các dòng họ khác trong làng.
            Về gia thế cụ tổ là một gia tộc gia phong nề nếp giàu có, con cháu thành đạt, song không hiểu vì lý do gì, cụ về đây dể khai hoang lập đất.
            Theo sách dư địa chí, Trung hành ngày xưa là một bãi sú vẹt, sông lạch chằng chịt, chạy dài ra tận biển Đông, thủy triều lên xuống thất thường, là nơi đầu sóng ngọn gió làm cho cuộc sống của người đi khai phá vô cùng vất vả. Song với lòng quyết tâm của người khai khẩn mở đất, mảnh đất đã không phụ công người, cây trồng đã cho ra hoa kết trái để nuôi sống con người. Con cháu cụ ngày càng đông, đất đai được mở rộng. “Đất lành chim đậu”, chính vì thế mà dân cư ở nhiều nơi dổ về đây sinh sống dần dần các Dòng  Họ cũng được hình thành (lục tộc) - Bia đặt tại Đình Trung Hành.
           Số người dần đông lên đất đai được mở rộng tên làng Trung Hành thuộc tổng Trung Hành được ghi vào bản đồ Quốc Gia (theo sách các tên làng xã Việt Nam thời phong kiến vùng đồng Bằng Bắc Bộ, trang 126) Tổng Trung Hành thuộc phủ Kinh Môn tỉnh Hải Dương ra đời từ đây. Đây là mảnh đất con cháu họ Bùi cùng các dòng tộc khác kế tiếp nhau sinh sôi nảy nở, phát triển cho đến tận ngày nay.
          Để tưởng nhớ người đã có công đầu mở đất, mỗi khi việc làng xã mở ra tổ chức tế lễ họ Bùi được mời lên thắp hương trước tiên. Đây là một vinh dự mà con cháu họ Bùi được ân hưởng. Việc làm này của làng xã với họ Bùi chúng ta là nghi thức luật bất thành văn nhưng đời trước vẫn cứ lưu truyền đời sau mãi mãi cho đến tận ngày nay.
         Con cháu cụ được hưởng phúc đời đời, được nhiều triều đại sắc phong, nhưng tiếc rằng những chứng cứ tư liệu đã bị mất, có thể là do thiên tai, địch họa, do thời gian tàn phá mà những tư liệu quý giá ấy không còn nữa. Đây là sự thiệt thòi cho các thế hệ hậu duệ Bùi tộc Trung Hành chúng ta.
        Các giấy tờ sắc phong bị mất nhưng hình như Tiên Tổ đã định liệu từ trước nên chúng ta vẫn có một văn bia đặt tại mộ tổ và một số văn bia đặt tại Đình Trung Hành. Chúng ta đã nhờ cụ Ngô Đăng Lợi nhà sử học và là Chủ tịch hội sử học TP Hải Phòng đã giúp đỡ dịch các văn bia. Qua đó chúng ta thấy được:
        Các hậu duệ của tiên tổ họ Bùi Trung Hành, có rất nhiều vị nối tiếp nhau giữ những chức vụ cao trong các triều đình trước đây để giúp dân giúp nước. Có những vị đứng hàng quan đầu triều. Như câu đối cổ còn lưu giữ tại từ đường:
       Sự quốc huân danh Lê Tiền Triều tướng tiếp
       Tại dân đức trạch Vũ lệnh tộc tính truyền
Trong các văn bia còn lưu tên các bậc tiền nhân đã học tại trường Quốc Tử Giám, trường Đại Học đầu tiên tại nước ta, các vị đã đỗ đạt được ra làm quan:
       Bùi Thiên Đô Tướng                Quốc Tử Giám
       Bùi  Húy Viên Sinh                   Quốc Tử Giám
       Bùi Thế Xứng tiên sinh            Quốc Tử Gíam
       Bùi Tướng Công                       Thủ tướng Quốc Tử Giám giám sinh
       Những vị đỗ đạt cao Quốc Tử Giám đều được bổ làm quan đầu tỉnh, dấu chân theo thể chế các triều đại.
      Để ghi nhớ công đức của các vị tổ tiên, đặc biệt là cụ tổ Bùi Chúa Đô, cách đây trên 200 năm, con cháu họ Bùi đã chung sức chung lòng xây đắp lên ngôi mộ tổ theo hình tượng “Bông sen sắp nở”, trên một gò đất cao, trên đỉnh ngôi mộ là hình chữ Vương, biểu thị là ngôi mộ danh gia vọng tộc nhưng rất tiếc ngôi mộ không còn nữa, ngôi mộ chỉ còn ảnh chụp laị.
         Con cháu họ Bùi ngày càng đông nhu cầu thờ phụng ơn đức tổ tiên cũng lớn dần lên, do đó Họ đã xây nên ngôi Từ Đường là nơi người họ Bùi Trung Hành hằng năm tổ chức cúng giỗ Tổ Tiên. Đặc biệt vào năm thứ 34 thời Minh Mạng, Từ Đường của Họ Bùi đã được xây dựng bề thế phỏng theo lối kiến trúc của một số công trình ở cố đô Huế: ”Nhất họa nhất thư” có nghĩa là mỗi bức họa có một bài thơ, với đường nét trạm trổ tinh sảo, hoa, lá, chim muông, rồng, phượng quấn quýt quanh bài thơ bằng chữ Hán. Chúng tôi đã nhờ người dịch nhưng vẫn chưa có kết quả. Ngôi từ đường có 3 gian bằng gỗ lim (nội cung, hai bên là nhà chè, đằng trước là sân tiếp theo là nhà tiền đường, kiến trúc theo chữ nhị(=) ngôi từ đường này vừa là vinh dự cho con cháu họ Bùi, vừa phần làm thỏa lòng báo hiếu của con cháu đối với Tổ Tiên. Trải qua hang mấy trăm năm ngôi Từ Đường đã bị hư hại nhiều chỗ, vừa qua con cháu của dòng họ đã đóng góp công sức, tiền của để trùng tu Từ Đường (nhưng vẫn giữ nguyên vẹn theo nếp cũ). Ngôi Từ Đường được tọa lạc trên diện tích 1009,9m2 nơi đây có thể nói là một tổng thể của dòng Tộc vừa có Từ Đường vừa có nơi đặt Mộ Tổ cùng 4 cụ Tổ cành. Lại có nhà văn bia đây cũng là trách nhiệm của con cháu và cũng là niềm tự hào của Dòng Tộc chúng ta phải giữ gìn xây dựng Từ Đường của chúng ta ngày một đàng hoàng hơn to đẹp hơn. Vừa qua đã được UBND TP Hải Phòng quyết định công nhận xếp hạng Di Tích Lịch sử - Văn Hóa cấp TP theo quyết định số 889 / QĐ- UBND
      Đây là một sự kiện vô cùng trọng đại đối với dòng tộc là một vinh dự lớn lao. Lễ đón nhận đã được lãnh đạo TP và lãnh đạo Quận Hải An cũng như lãnh đạo phường Đằng Lâm cùng 13 dòng tộc trong làng Trung Hành và đặc biệt có đoàn đại biểu của Bùi tộc toàn quốc - Đoàn đại biểu Bùi tộc TP cũng đến dự. Trong dòng họ tất cả con cháu và các  cụ phụ lão trong dòng tộc đều đi đón Bằng Di Tích về Từ Đường. Buổi lễ được tổ chức rất hoành tráng. Đây là niềm tự hào của dòng tộc và cũng là sự quan tâm của Quốc Gia và thành phố đã tri ân tổ tiên của chúng ta.
         Tháng năm dần trôi, qua mỗi thời kỳ, qua mỗi triều đại người họ Bùi chúng ta đều có những người có học vấn cao, có đức độ đã ra làm quan để giúp nước, giúp dân. Đến thời kỳ Cách Mạng Việt Nam ra đời, họ Bùi Trung Hành đã có nhiều người đi theo lá cờ cách mạng cuả Đảng ngay từ những ngày đầu tiên (theo lịch sử Đảng Bộ huyện Hải An).
         Có những người tham gia quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp - Đến cuộc  kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Dòng tộc chúng ta lại động viên con cháu mình lên đường đi giải phóng Miền Nam theo tiếng gọi của Đảng cùng với dân quân cả nước, người họ Bùi chúng ta đã anh dũng chiến đấu không tiếc máu xương, không ngại gian khó. Năm 1975 cuộc kháng chiến đã được hoàn toàn thắng lợi những người con của họ Bùi trở về với vinh dự có người mang đầy huân chương cũng có người là thương binh, nhưng cũng có những người không bao giờ trở về dòng họ chúng ta có 14 liệt sĩ các anh đã là niềm vinh dự của dòng họ. Người họ Bùi anh dũng chiến đấu chống kẻ thù bảo vệ đất nước thì trong hòa bình lại siêng năng học tập theo gương cha ông. Dòng ho chúng ta có nhiều người là kĩ sư, bác sĩ, giáo viên hay những vị giữ trọng trách trong chính quyền các cấp như: Bí Thư Đảng Ủy, Trưởng phó phòng các cục, quận, huyện …
          Qua một số tư liệu thống kê trên chúng ta có thể tự hào về dòng tộc của mình. Thành quả ấy là công sức của nhiều đời, nhiều gia đình, nhiều cá nhân trong Dòng Tộc đã phấn đấu lao động, học tập, chiến đấu mà có. Chúng ta có ngày hôm nay là do công ơn của Tiên Tổ vì vậy chúng ta phải có trách nhiệm phải báo đền .
           Lịch sử của cả dòng họ đã kéo dài gần 500 năm, người ho Bùi phải nên biết những truyền thống hào hùng, những công lao to lớn của Tiên Tổ để răn dạy con cháu ghi nhớ lấy đó làm gương noi theo để làm rạng danh dòng tộc. Để xứng đáng làm con cháu họ Bùi Trung Hành.
            Chúng ta hãy phấn đấu xứng đáng với truyền thống của cha ông xứng đáng là người họ Bùi như lời cụ Lê Qúy Đôn đã viết trong kiến văn tiểu lục :
“Con cháu sinh sôi nảy nở
Công danh sự nghiệp rạng rỡ vẻ vang
Từ đời Lê Trung Hưng
Bầy tôi kế thế
Tộc thuộc lớn lao
Nói đến nhà quý hiển nhất
Chỉ có họ Bùi mà thôi”
Trong bài viết này chắc chắn chúng tôi còn thiếu rất nhiều tư liệu vì vậy mong rằng những người quan tâm đến dòng Tộc và con cháu của Bùi Tộc nếu tìm kiếm được những tư liệu xin gửi về cho Ban Khánh Tiết chúng tôi tập hợp để viết lên (lược sử của dòng Tộc chúng ta) sẽ đầy đủ hơn và có ý nghĩa hơn rất mong mọi người quan tâm .
          Ban Khánh Tiết Họ Bùi Trung Hành chúng tôi xin vô cùng cám ơn
                                                                                  Trung Hành,ngày 2 tháng 8 năm 2010
                                                                                          Ban Khánh Tiết Họ Bùi

Điều tra cơ bản tộc Bùi Công Phái 2, Phái 3 Hải Châu- Đà Nẵng

BÁO CÁO ĐIỀU TRA CƠ BẢN TỘC BÙI CÔNG (PHÁI 2)
BÌNH HIÊN- HẢI CHÂU- ĐÀ NẴNG

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Một nhà khoa học năng động

Bùi Thanh Phương: Tự hào là hậu duệ danh họa họ Bùi

Bùi Thanh Phương: Tự hào là hậu duệ danh họa họ Bùi
27/10/2007, 07h39


     Nghiệp vẽ đến với Bùi Thanh Phương có thể là tình cờ nhưng cũng là duyên phận. Là con trai của danh họa nổi tiếng Bùi Xuân Phái nhưng cha anh lại chưa dạy anh “vẽ một ngày nào theo cách dạy truyền thống”.
     Tất cả đều là do anh tự học, tự mày mò trong cái “trường đại học lớn” - căn phòng chỉ vẻn vẹn vài mét vuông nơi “xưởng vẽ” của cha anh. Nhưng chính nơi đó đã chắp cánh nghiệp vẽ của Bùi Thanh Phương và cho anh nhiều điều mà không đơn thuần chỉ là một tình yêu. Anh đã chia sẻ với PV Tổ Quốc về nghiệp vẽ, ký ức về người cha - danh họa Bùi Xuân Phái và cả về dự định mà anh đang ấp ủ.
     - Nghe nói anh đang cùng hai người bạn tích lũy tiền để thành lập giải thưởng mang tên cha anh, họa sĩ Bùi Xuân Phái?
     Khi tôi ngỏ ý muốn thành lập giải thưởng Bùi Xuân Phái, tôi đã nhận được sự tán thưởng của các bạn tôi là các nhà sưu tập lớn, đó là Trần Hậu Tuấn và Bùi Quốc Chí. Ban đầu, chúng tôi dự kiến số tiền gửi ngân hàng sẽ vào khoảng 30 ngàn đô la Mỹ, như vậy lãi xuất hằng năm sẽ được hơn một ngàn. Số tiền lãi ấy sẽ vĩnh viễn giành cho “giải thưởng Bùi Xuân Phái”. Nhưng hiện tại, chúng tôi còn đang thảo luận thêm, bởi ý kiến của Trần Hậu Tuấn muốn giải thưởng có sức nặng hơn, nghĩa là, số tiền gửi vào nhà băng sẽ phải nhiều hơn thế. Chúng tôi dự tính, giải thưởng này sẽ chính thức được trao lần đầu tiên vào ngày sinh của cụ Bùi Xuân Phái (1.9.1920 -1.9.2008). Hằng năm vào ngày 1 tháng 9 sẽ là ngày trao giải thưởng này.
     - Anh có thể cho biết rõ hơn về đối tượng và cơ cấu của giải thưởng Bùi Xuân Phái? 
     Cơ cấu của giải sẽ do những thành viên trong nhóm thành lập giải thưởng soạn thảo và đối tượng được trao giải sẽ là người có tác phẩm xuất sắc nhất trong năm thuộc lãnh vực Văn học và Nghệ thuật. Nhưng tôi nghĩ, trong tương lai, Giải thưởng Bùi Xuân Phái sẽ được trao cho một tổ chức văn hóa có uy tín điều hành.
     - Anh đã từng nói đại ý anh là “khắc tinh” của những kẻ làm giả tranh của cụ Phái, vì anh là con cụ?
     Lúc sinh thời, cụ Bùi Xuân Phái có lần đã nói vui “Không biết sau này người ta có vẽ giả tranh của mình không? Mình cũng muốn xem qua một vài bức xem họ vẽ như thế nào”. Tiếc là Bùi Xuân Phái đã chưa kịp được xem những bức tranh giả mà người ta vẽ rồi dán cái mác Phái vào. Còn tôi thì phải xem khá nhiều với một cảm giác vừa thất vọng vừa buồn phiền vì giới làm tranh giả Phái vẽ quá kém. Họ không hiểu tinh thần, tâm tư của người họa sĩ thì làm sao bức tranh nó có hồn? Mặt khác, họa sĩ nào cũng có những kỹ thuật, thủ pháp của riêng mình, điều này người ta cũng không thể bắt chước hay truyền trao được.
     - Anh là người con duy nhất trong gia đình theo nghiệp cha, có khi nào anh cảm thấy mệt mỏi khi phải đứng trước cái bóng quá lớn ấy?
     Ở Việt Nam, tôi thấy hầu hết các ông con của các họa sĩ đã thành danh đều khó ngóc đầu lên được bởi đều phải chịu  sự so sánh của nhân thế. Nhưng nếu ông bố là họa sĩ nhàng nhàng thì ông con có cơ vượt lên thoải mái hơn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy mệt mỏi khi đứng trước cái bóng quá lớn là cha mình, mà tôi luôn tự hào và cố gắng với tâm niệm xứng đáng là hậu duệ của họa sĩ họ Bùi. Tôi sống và làm việc với một niềm tin và tình yêu của riêng của tôi. Có câu của Bùi Xuân Phái rằng “Tôi là tôi với tất cả những cái kém và cái hay”. Câu nói ấy đã an ủi tôi nhiều.
     - Nhưng anh cũng đã  phải từ bỏ đề tài mà anh rất yêu thích là “Phố. Anh lo ngại mình không vượt qua được cái bóng của cha hay không thể khẳng định, ngoài phố Phái, còn có một phố Phương?
     Đề tài phố, nhất là phố Hà Nội là đề tài tôi yêu thích nhất, và cũng là dễ vẽ, dễ đẹp hơn các đề tài khác. Muốn vẽ phố cổ Hà Nội cho đẹp thì chẳng có cách nào khác là phải nhìn bằng cái lăng kính của Bùi Xuân Phái, góc độ của Bùi Xuân Phái mà nếu như vậy thì cái áo mình mặc lại là cái áo mình đi mượn rồi, vì thế từ nhiều năm nay tôi đã hoàn toàn rơi vào khủng hoảng và không vẽ phố cổ Hà Nội nữa. Mặt khác, Hà Nội cũng không còn cảnh phố cổ nữa để cho mà vẽ. Các họa sĩ bây giờ vẽ phố cổ Hà Nội chỉ có thể dựa theo ảnh tư liệu hoặc vẽ phịa nên không có xúc cảm gì nhiều. Ngày xưa ông Phái vẽ, ông có bao giờ muốn cố gắng để khẳng định phố Phái đâu. Vì thế tôi tự thấy buồn cười nếu tôi vật vã làm việc để muốn khẳng định… phố Phương.

 Bùi Thanh Phương sinh năm 1956, là con trai thứ của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Phương bắt đầu vẽ tranh từ tuổi niên thiếu, năm 13 tuổi (1969) đã bán được 3 bức tranh đầu tiên cho nhà sưu tập Đức Minh. Anh vẽ tranh ở nhiều mảng đề tài khác nhau như: phong cảnh, nude, phố cổ, chân dung,... Gallery 31 Cửa Đông là nơi anh trưng bày tranh của mình. Ngoài ra, tại căn nhà số 87 Thuốc Bắc (Hà Nội), anh cũng làm một gallery gia đình trưng bày những bức tranh còn lưu giữ của cha anh, họa sĩ Bùi Xuân Phái.

     - Liệu theo đuổi đề tài khác, anh có dám chắc mình thành công?
     Họa sĩ thường chẳng ai dại gì mà tuyên bố mình sẽ chỉ vẽ đề tài này khác trong toàn bộ cuộc đời mình. Cảm hứng sáng tác nó đến với mình bất chợt như tình yêu, nó đến mà có hẹn trước hay biết trước bao giờ đâu. Tôi nhớ có lần Bùi Xuân Phái đã nói hóm hỉnh “ Với nghệ thuật, mình phải đi theo nó chứ không phải là nó đi theo mình”.
     - Vậy cụ Phái dạy anh vẽ, hay anh tự học?
     Bùi Xuân Phái chưa bao giờ dạy tôi vẽ một ngày nào theo như cách dạy học truyền thống. Ở tuổi 12, tự tôi mò mẫm đi xin học vẽ ở Cung thiếu nhi. Cách tôi học được nhiều ở Bùi Xuân Phái là hằng ngày tôi ngồi bên cạnh bảng mầu của ông để xem ông vẽ và nghe ông nói chuyện về hội họa, nghe các quan niệm về nghệ thuật của các họa sĩ mỗi khi họ đến thăm ông. Căn phòng của Bùi Xuân Phái ngày ấy đối với tôi là một trường đại học lớn.
     - Vậy anh quan niệm thế nào về một người nghệ sĩ chân chính?
     Ở thời các ông Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, khi nhận định về một họa sĩ nào đấy, các ông thường chỉ dùng cụm từ "họa sĩ này hay". Nếu được nhận định như vậy bởi các maitre thì người họa sĩ đó đã thành công lắm rồi. Các ông thường khen ngợi là HAY chứ không  phải là giỏi (giỏi thường chỉ là khéo tay). Tiêu chí về một họa sĩ chân chính nghe có vẻ bao la và dễ khiến người ta ba hoa tán phét. Tôi nỗ lực, gắng sức mỗi ngày chỉ mong sao trong sự nghiệp của mình để lại được một hoặc hai bức tranh HAY cho đời, thế cũng là đủ cho một cuộc đời, phải không bạn?
     - Xin cảm ơn anh!
                                                                                                            (Theo TQ)

GS BÙI VĂN CÁC

GS BÙI VĂN CÁC-
Nhà trí thức lớn giàu lòng yêu nước.
Một chuyên gia tổng hợp lỗi lạc

     GS Bùi Văn Các không chỉ là một chuyên gia lớn về xây dựng , mà còn là một tổng hợp gia (generalist) trên nhiều lĩnh vực và phương diện. Ở chừng mực nào đó, nhiều người cảm nhận Anh như Một pho Bách khoa Toàn thư sống động và đa dạng, lại tập trung, hướng đích.
      NHÀ TRÍ THỨC GIÀU LÒNG YÊU NƯỚC
     GS Bùi Văn Các sinh ra tại thành phố Nam Định năm Mậu Ngọ (9-1-1919) là một năm với chu kỳ hoạt động mạnh của mặt trời, nên có tư chất thông minh, dĩnh ngộ, nghe một biết mười.
     Ông nội Anh là một bậc thâm nho, khi Anh bắt đầu học lớp Đồng ấu, cụ đã dạy thêm cho Anh chữ Hán, qua cuốn “Tân Thư” do một cụ đồ xứ Nghệ soạn, trong đó Anh nhớ nhất ý nghĩa câu: “phụ xà giảo gia kê” (cõng rắn cắn gà nhà) nói về việc nhà Nguyễn đã rước quân Pháp vào xâm chiếm nước ta, biến nước ta thành thuộc địa.
     Ý chí chống thực dân Pháp của Anh bắt đầu được nhen nhóm, khơi nguồn từ đó.
     Khi anh tổt nghiệp kỹ sư công chính với hạng “ưu”, chính quyền thực dân Pháp cử Anh sang làm việc tại Lào; mà hồi đó đưa sang Lào là một kiểu đưa đi “biệt xứ”, nhưng với phong thái, tài đức của Anh, nhiều đồng nghiệp Lào và cộng sự Lào kính mến, cảm phục Anh.
     Làm việc tại Lào được gần một năm, nghe tin nước nhà chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Anh tức tốc theo đường 9 về nước, kịp thời tham gia Cách mạng Tháng Tám tại Đà Nẵng. Anh được cử làm Phó Chủ tịch và sau đó là Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Thành phố Đà Nẵng. Mới 27 tuổi, ở cương vị đứng đầu một thành phố lớn, trong buổi sơ khai của cách mạng, mặc dầu chưa qua một khoá huấn luyện chính trị nào và chưa có kinh nghiệm nhiều về hoạt động cách mạng, Anh đã củng cố sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ cán bộ chủ chốt của địa phương, vận dụng kiến thức chuyên môn về “xây dựng hạ tầng cơ sở” để tạo nền tảng vững vàng cho Đà Nẵng vể tổ chức lực lượng quân sự, hành chính và đoàn thể cách mạng.
      Toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19-12-1946), Anh được Chính phủ điều động ra Nghệ An làm Giám đốc Nhà máy Xe lửa Trường Thi (Vinh) lúc đó chuyển thành Nhà máy chế tạo và sửa chữa vũ khí đạn dược phục vụ chiến đấu trong hệ thống ngành quân giới Bộ Quốc phòng. Đây là lần thứ hai, gần hai năm hoạt động cách mạng. Anh phải chuyển làn: từ một cán bộ chính trị có chuyên môn về xây dựng hạ tầng cơ sở, Anh phải nhanh chóng thích nghi với ngành nghề mới về kỹ thuật vũ khí. Anh đã thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ: vừa tổ chức quản lý đội ngũ công nhân, bố trí lại các dây chuyền sản xuất của đơn vị cho phù hợp với yêu cầu mới, vừa khẩn trương tranh thủ học tập, tham khảo, nghiên cứu các tài liệu chuyên môn chế tạo vũ khí của Pháp, Anh, Mỹ…
     Và kết quả là nhà máy xe lửa Trường Thi - trở thành Công binh xưởng của Liên khu 4 - đã đảm bảo cung cấp và sửa chữa vũ khí, đạn dược cho chiến trường Bình Trị Thiên trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến thần thánh chống Pháp.
     Chính trong thời kỳ này, năm 1947, Anh đã có vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng trong hàng ngũ tiền phong cách mạng của Việt Nam ngay giữa giai đoạn nước sôi lửa bỏng của cuộc kháng chiến.
     Sau chiến dịch thu đông 1947 của quân Pháp tấn công lên Việt Bắc bị thất bại, Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương: song song với việc tăng cường xây dựng quân chủ lực, phải rất quan tâm đảm bảo hậu cần, đảm bảo giao thông cho các trận đánh lớn và về lâu dài, chuẩn bị cho sự nghiệp xây dựng giao thông cả nước. Chính vì mục tiêu thứ hai này, Anh Bùi Văn Các được điều động từ khu 4 ra Việt Bắc, phụ trách Giám đốc Nha Giao thông. Lần này nhiều nhân sỹ trí thức là bạn bè kháng chiến hồi đó, nói đùa với nhau về Anh: “II est maintenant bien dans son assiette” (Cậu ta bây giờ được ổn định trong nghề nghiệp chính của mình).
     Giờ đây, đối với Anh, tính chất và nội dung công việc thì tương đối ổn định, tức là điều tra khảo sát thực trạng của các tuyến đường, cầu, sông, suối, suy nghĩ nghiên cứu kế hoạch và biện pháp phục vụ chiến đấu, phục vụ vận tải lương thực; nhưng điều kiện làm việc và thực hiện thi công thì không đơn giản chút nào trong hoàn cảnh không có xi măng, sắt thép, phương tiện máy móc, mà phải phát huy cao độ và cải tiến các phương pháp thủ công, sử dụng vật liệu thô sơ, tại chỗ…
     Có lần đi kiểm tra tới một cung đường uốn khúc góc nhọn, anh em cán bộ kỹ thuật và công nhân đang phải bó tay hàng tuần lễ qua trước những khối lớn đá vôi không thể nào phá hoặc đẩy đi được vì thiếu thuốc nổ. Anh đã hướng dẫn cho mọi người tập trung gỗ, củi khô xếp chung quanh và lên trên các khối đá để đốt; cuối cùng đá vôi (CaCO3) đã biến thành vôi cục chưa tôi (CaO) chỉ cần đập nhẹ là tan ra hết. Ai cũng xuýt xoa tấm tắc: “Thánh thật !” Anh cười khiêm tốn: “Có gì đâu, nếu nó là granit hay quartzit thì chịu, còn đây là đá vôi. Ai đã từng nung vôi, đều có thể giải quyết được, đơn giản thôi mà!”.
     Vì anh là con người “đa năng”, ngoài tiếng Pháp là một ngôn ngữ được đào tạo từ trường Pháp, Anh còn giỏi tiếng Anh, nên năm 1949 Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh đã giao nhiệm vụ đi xuyên qua Lào sang Thái Lan mua vũ khí cho quân đội.
     Cùng đoàn có cán bộ quân giới của Bộ Quốc phòng, và cả anh Nguyễn Như Kim đi tìm mua các thiết bị truyền thanh cho Đài Tiếng nói Việt Nam. Sang Bangkok, anh đã liên hệ với tổ chức Việt Kiều yêu nước ở Thái Lan trong điều kiện lúc đó chính phủ Thái Lan, do Pháp can thiệp, đã trục xuất các Việt Kiều ở thủ đô Bangkok phải đến cư trú ở các tỉnh khác. Mặc dù vậy, qua cơ sở Việt Kiều ở Thái Lan, Anh vẫn tiếp xúc được với các giới quân sự địa phương để hoàn thành sứ mạng của đoàn một cách xuất sắc.
     Năm 1950, Đảng Cộng sản Pháp cử Léo Figuères, một Uỷ viên Trung ương, sang Việt Nam nghiên cứu tình hình tại chỗ và trao đổi với Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta về những gì mà Đảng Cộng sản Pháp có thể và cần phải làm để ủng hộ một cách hữu hiệu công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng cử phái đoàn sang Bangkok đón Léo Figuères về Việt Bắc, gồm hai đồng chí: Bùi Công Trừng và Bùi Văn Các, là những cán bộ có đủ tầm cỡ và trình độ chính trị, lại thông thạo tiếng Pháp. Sau đó, khi Léo Figuères về nước, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư đã phát biểu nhận xét của mình về Anh Các cô đọng trong một câu: “II est politiquement bien muri” tạm dịch là “Đồng chí ấy rất chín chắn, trưởng thành về chính trị”.
     Trong những năm từ 1951 đến 1954, với cương vị là Giám đốc Nha Giao thông, Anh đã đóng góp phần đáng kể vào thắng lợi của các chiến dịch Trung Du, Đường 18, Hà Nam - Ninh Bình, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và Điện Biên Phủ.
     Sau hiệp định Genève, về thủ đô Hà Nội, Anh tiếp tục làm việc ở Bộ Giao thông (Tổng cục trưởng), ở Uỷ ban kế hoạch Nhà nước (Uỷ viên Uỷ ban, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Kiến thiết Cơ bản), ở Uỷ ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước (Uỷ viên Uỷ ban) và Bộ Xây dựng (Thứ trưởng đặc trách Khoa học và Kỹ thuật).
     MỘT CHUYÊN GIA TỔNG HỢP LỖI LẠC
     Anh không chỉ là một chuyên gia lớn về xây dựng , mà còn là một tổng hợp gia (generalist) trên nhiều lĩnh vực và phương diện.
     Đọc nhiều, đọc nhanh, biết rộng và hiểu sâu, Anh không hề là một người mọt sách: tư duy, lời nói và hành động của Anh luôn luôn gắn chặt và bám trụ với thực tế của Việt Nam, luôn luôn đứng trên mảnh đất quê hương có cả 3 vùng Bắc - Trung - Nam, với miền xuôi, miền ngược. Chuyên môn gốc của Anh là xây dựng, nhưng Anh không xa lạ gì với những vấn đề kỹ thuật và kinh tế của các ngành cơ khí - luyện kim - hoá chất - công nghiệp nhẹ, thậm chí cả nông nghiệp, lâm nghiệp, khoáng sản…
     Ở chừng mực nào đó, nhiều người cảm nhận Anh như Một pho Bách khoa Toàn thư sống động và đa dạng, lại tập trung, hướng đích.
     Những năm 60 của thế kỷ trước, khi vận động thuyết phục mọi cấp, mọi người giác ngộ và nhất trí về chủ trương xây dựng các khu nhà tập thể bằng phương pháp lắp ghép công nghiệp hoá thay thế cho việc xây dựng bằng từng viên gạch. Anh đưa ra hình ảnh; “Một ông thợ may, đo kích thước quần áo cho từng người, rồi dùng kéo cắt vải theo đường vạch, sau đó tỷ mẩn khâu lại bằng tay, so sánh với việc nghiên cứu một số môđul về kích thước người lớn, trẻ con, đàn ông, đàn bà và thiết kế một số mẫu phù hợp với “gu” của từng loại đối tượng, rồi đưa vào dây chuyền sản xuất hàng loạt, giá thành rẻ hơn, chất lượng cao hơn, sản phẩm nhiều hơn hàng triệu lần, và làm ra nhanh hơn hàng chục triệu lần, thì ta nên chọn cách nào ?”
     Ai nấy đều vỗ tay tán thành và thán phục anh đã bắn một viên đạn trúng hai mục tiêu, một mục tiêu cơ bản ích nước lợi dân, một thứ yếu là một số người lúc ấy đang ở ngành xây dựng dân dụng vẫn còn khăng khăng chủ trương xây nhà bằng gạch theo phương pháp truyền thống, ăn chắc mặc bền…
     Trong thời gian chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc, Anh đã dày công miệt mài nghiên cứu những kinh nghiệm nguỵ trang công trình của Triều Tiên - nhà cửa, công xưởng, cầu đường…(do Mỹ tổng kết thành tài liệu mật của Lầu Năm góc), để vận dụng trong việc đề ra những biện pháp nguỵ trang có hiệu quả cho các công trình sản xuất và giao thông của Việt Nam. Trong những hội nghị khoa học chuyên đề loại này tổ chức ở nơi sơ tán, Anh đã hướng dẫn tỷ mỷ và cụ thể cho cán bộ các Uỷ ban XDCB, các Ty Kiến trúc, Giao thông, Thuỷ lợi về những biện pháp nguỵ trang công trình để thực hiên ở địa phương mình.
     Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng về thiết kế Lăng Chủ tịch, Anh đã phác thảo và thiết kế công trình Lăng với tất cả tâm huyết, nhiệt tình và tinh thần sáng tạo. Tư tưởng chủ đạo của anh trong thiết kế là tính dân tộc, hiện đại, là sự toả sáng, gần gũi nhân dân và bình dị khiêm tốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sự kế thừa và phát huy, nâng cao phong cách kiến trúc Khuê Văn Các.
     Riêng tôi đánh giá rất cao bản thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, người đã thiết kế ngôi nhà sàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây. Nếu như hồi đó hội đồng tuyển chọn tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến của đông đảo chuyên gia có hiểu biết, thì có thể hai bản của tác giả Bùi Văn Các - Nguyễn Văn Ninh đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của quần chúng hơn là bản thiết kế đã được chọn có dáng dấp lênh khênh không hài hoà với cảnh quan, theo kiểu cổ Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, vừa xa vời vừa không hợp với phong cách dân tộc và thẩm mỹ kiến trúc Việt Nam, vừa không như ý nguyện của Bác Hồ luôn luôn hoà mình, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, đất nước, là điều không ai dám phủ nhận, và lẽ ra không được làm ngược lại.
     Giải phóng miền Nam, giang sơn thống nhất Anh có dịp đi công tác vào nửa phần đất nước phía trong. Từ lâu, anh đã có thói quen trước khi đi công tác ra một nước ngoài là phải tìm hiểu sâu về đất nước, về lịch sử, kinh tế, xã hội và chính trị của nước đó.
     Lần này, đi vào Nam, Anh đã chuẩn bị và nghiên cứu từ hơn bảy năm về trước các tài liệu liên quan đến xây dựng và kế hoạch kinh tế hậu chiến của Mỹ - Nguỵ, thông qua việc thành lập một tổ chức chuyên gia trong bộ phận tổng hợp của Uỷ ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước để sưu tầm, hệ thống hoá, cập nhật toàn bộ tình hình xây dựng kinh tế ở miền Nam (cả hiện trạng và viễn cảnh). Anh đã đọc kỹ mọi báo cáo và tài liệu của tổ chuyên gia, đặc biệt là công trình dự báo chiến lược của Hãng Tư vấn Mỹ “Resources consulting corporation” do David Lilienthal chủ biên.
     Cho nên hồi đó, khác hẳn với một số cán bộ cao cấp và chuyên gia của các ngành khác từ Hà Nội vào, khi đến các cơ quan, tổ chức kinh tế hoặc cơ sở sản xuất miền Nam phải nghe báo cáo tình hình của đơn vị rất tốn thời gian, Anh đã tập trung đi thẳng vào những vấn đề cụ thể, những khó khăn vướng mắc hiện nay, sau giải phóng, để gợi ý cách giải quyết. Cán bộ trong Nam, từ Thừa Thiên - Huế trở vào đến Bạc Liêu, Rạch Giá, Cần Thơ,…đều rất ngạc nhiên bảo nhau: “Ổng nắm vững tình hình ở đây còn hơn tụi mình, kỳ thiệt !
     Một số chuyên gia cao cấp và nổi tiếng về kiến trúc, xây dựng như Ngô Viết Thụ, Nguyễn Quang Nhạc, …từ thời Mỹ - Nguỵ còn ở lại, khi tiếp xúc với Anh đều trầm trồ kính nể một chuyên gia hàng đầu, một “guru” về kinh tế, khoa học kỹ thuật xây dựng của cách mạng đã hoàn toàn chinh phục họ. Họ nói: “Việt cộng có những người giỏi về quân sự lại có tướng tài về khoa học kiến trúc và xây dựng như ông Các, hèn nào !”
     Anh đã đứng ra vận động thành lập Hội Khoa học Kỹ thuật Xây dựng Việt Nam với tư cách là Trưởng ban trù bị từ 1965 và cho đến 1982 Hội chính thức ra đời. Hội là một tổ chức nghề nghiệp đa ngành tập hợp các chuyên gia - hiểu theo nghĩa rộng - làm việc trong các lĩnh vực xây dựng, là một diến đàn cho các thành viên có cơ hội đóng góp vào soạn thảo các chính sách về xây dựng với tư cách tham mưu, tư vấn và phản biện xã hội.
     Thực tế 20 năm hoạt động vừa qua của Hội Khoa học Kỹ thhuật Xây dựng đã khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức nghề nghiệp này mà Anh là người sáng lập.
     Một nét rất tiêu biểu của Ạnh là tinh thần say sưa, cần cù học tập trong sách báo, tài liệu, qua thực tế trong nước và trên thế giới, nắm bắt những cái mới trong nghề xây dựng để phổ biến và vận dụng. Anh đọc nhanh và nhiều. Bao nhiêu sách báo ở Thư viện Khoa học Trung ương về kiến trúc xây dựng, cũng như tất cả các loại sách báo ở Thư viện của Trung tâm Thông tin Uỷ ban Kiến thiết Cơ bản, Trung tâm Thông tin Bộ Xây dựng, Anh đều đọc qua hết, và còn giới thiệu cho các cán bộ trong ngành những cuốn nào cần phải đọc, những vấn đề gì cần quan tâm.
     Chính với khả năng và thói quen đọc nhiều, mà trong khi dự một số hội nghị do cấp trên chủ trì. Anh vẫn vừa nghe phát biểu của mọi người, vừa đọc sách - khiến một số nào đó hiểu lầm, cho là Anh coi thuờng cả cấp trên, mặc dù Anh vẫn không bỏ sót một ý kiến nào trong cuộc họp.
     Cuối năm 1970 khi chữa bệnh ở CHDC Đức, Anh đã tranh thủ trong vòng 3 tháng học thêm được tiếng Đức và cuối năm 1985, trước khi lâm chung Anh viết xong cuốn “Nghề xây dựng ở Pháp” đồng thời phác thảo kết cấu và nội dung chính tác phẩm: “Xây dựng công nghiệp và công nghiệp xây dựng ở Việt Nam”. Phác thảo này còn đang dở. Hai ngày  trước khi vĩnh biệt gia đình và đồng nghiệp, Anh còn kịp dặn lại tôi, qua mấy câu nói ngắt quãng:
     - “FIDIC, FIDIC, cậu biết chứ?”
     Tôi cúi sát Anh:
     - “Vâng, tôi biết ! Tài liệu đấu thầu quốc tế !”
     Anh nói tiếp, hơi thở đã dồn dập:
     -“Mình rất tiếc… chưa phổ biến FIDIC ở Việt nam …Cậu cố gắng làm viẹc đó…thay mình…Được vậy …Mình đi cũng yên tâm.”
     Tôi lập cập:
     - “Vâng tôi xin hứa với Anh nhất định sẽ làm được !”
     Mắt Anh sáng lên, chìa bàn tay cho tôi nắm lần cuối.
                                                                               Lê Quang Huy