Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

TỤC THỜ ĐÁ - KÌ THẠCH VÀ VẤN ĐỀ THẠCH ĐẠO VIỆT

Bài đăng kỷ yếu hội thảo hội nghị KH toàn quốc lần 1 về "Nghiên cứu và ứng dụng khả năng đặc biệt của con người" do Viện NC&ƯDTNCN chủ trì tổ chức tháng 12.2016.

TỤC THỜ ĐÁ - KÌ THẠCH VÀ VẤN ĐỀ THẠCH ĐẠO VIỆT
                                                                                  Lê Mạnh Tuấn[1]

          Sau một thời gian dài nghiên cứu tục thờ Đá ở Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng như sưu tầm nghiên cứu kì thạch Việt cùng các bộ môn khoa học khác như: Kinh dịch, Chu dịch, Cảm xạ, Nhân điện và cách sử dụng Đá. trong các tôn giáo, lễ giáo, chúng tôi nhận thấy vai trò của đá trong nền văn hóa Việt nói chung và văn hóa đá Việt nói riêng là vô cùng quan trọng và tính ứng dụng rất cao mang bản sắc đặc thù. Để hệ thống mang tính chính luận xin trình bày một số kết quả như sau: Vai trò của Đá trong cuộc sống; 'I'ục thờ Đá ở Việt Nam và một số nước khác; Kì Thạch Việt; Xây dựng Bộ môn Thạch Đạo Việt và ứng dụng trong cuộc sống.
1. Vai trò của đá trong cuộc sống
          Từ khi Trái Đất được hình thành còn trong hệ hỗn mang - nguội dần - Đá được hình thành các tạp chất - cùng tỉ trọng- cùng tính chất hóa lý tụ về với nhau và hình thành "thạch quyển" trên bề mặt trái đất, trên đó các sinh vật được sinh sôi phát triển trong môi trường đó. Có thể nói từ khi loài người biết đi, biết nói "ngôn ngữ", biết kiếm ăn và hình thành các tộc người, mặt đất Đá tương đối hoàn chỉnh trên bề mặt hành tinh Trái Đất của chúng ta, thạch quyển đã tương đối ổn định, có núi, có sông, có đồng bằng và các bình nguyên. Mặc dù vậy nó vẫn âm thầm biến đổi theo thời gian và thỉnh thoảng lại thay đổi mang tính vĩ mô (như chuyển dời các lục địa), vi mô (như động đất, núi lửa...). Đá lúc này đóng vai trò là điểm tựa tinh thần (hang động, dụng cụ) và thời kỳ đồ đá là thời kỳ dài nhất trong thời kỳ phát triển loài người.
          Đá còn là nguồn nguyên liệu phát triển nền văn minh loài người. "Đá có trong tất cả, tất cả có trong Đá" . Ta cũng biết các kim loại, động thực vật... đều từ đá mà ra. Các đền đài, các công trình văn hóa, toàn bộ các thành phố lớn bé, nhà ở, các công trình giao thông đều dùng đến nguyên liệu từ Đá. Toàn bộ các máy móc thiết bị phục vụ cho công nông nghiệp, cho sự phát triển văn minh của loài người bắt nguồn từ tài nguyên khoáng sản trong Đá.
          Những nét tiêu biểu của nền văn minh trên thế giới, Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng như nền văn minh Inca Ai Cập, Trung Quốc...tồn tại qua năm tháng còn lại đều là Đá...Ta có thể nói "Đá có trong tất cả, tất cả có trong đá".
2. Tục thờ Đá
           Ban ngày con người đi kiếm ăn, tối về ngủ trong hang hay dựa vào vách đá để nghỉ ngơi. Đá lúc này sẽ che chở bảo vệ con người trước thời tiết khắc nghiệt, trước mưa giông, sấm sét, lụt lội... Càng ngày con người càng phát triển và thông qua đá để tìm ra lửa, chuyển đối một giai đoạn phát triển của văn minh loài người.
Trước thiên nhiên khốc liệt như mưa bão, lũ lụt đặc biệt là sấm sét, hay động đất, sóng thần... qua kinh nghiệm từ đời nọ sang đời kia con người thấy đến với tài nguyên Đá được yên lành hơn. Thậm chí tài nguyên này đã được huyền thoại hóa và khi con người đến với nó thì tính linh nghiệm của Đá được thực hiện. Dần dần xuất hiện tục thờ Đá, con người gửi gắm niềm tin, thậm chí ước mong vào Đá. Huyền thoại Đá cùng với Đạo Mẫu ngày càng phát triển.
           Trong thuật ngũ hành Đá thuộc hành thổ (theo nghĩa rộng), Thổ là đất mẹ là nơi nuôi sống con người, cho con người nguồn tài nguyên để phát triển. Đất có tính chất đặc biệt mà các ngũ hành khác không có: Đất không bao giờ nổi giận - Đất mẹ luôn bao dung và che chở cho muôn loài. Đất mẹ nhẫn nại chịu đựng, luôn luôn có lòng vị tha, vì vậy hết đời nọ sang đời kia, Đá chính là (Trời cho Đất nhận) tượng của Đất. Đồng thời theo nghĩa rộng, Đá thuộc hành Thổ luôn đứng ở vị trí trung tâm của ngũ hành điều này lí giải tại sao con người lại có tục thờ Đá và được gắn với tục thờ Mẫu ở Việt Nam nói riêng và vùng Nam Á nói chung.
          Trong các tôn giáo lớn đặc biệt là tôn giáo: Phật giáo, Công Giáo, Islam đều gắn bó với đá. Đá được sử dụng làm nguyên liệu để xây dựng đền đài, miếu mạo, Đá được dùng để tác tạo tượng người, tượng thú mà loài người suy tôn trong tín ngưỡng của mình. Đá Mã Não nằm trong thất bảo của nhà Phật đứng ngôi thứ 6 tạo ra chất Phật. Đá được phong thánh, từ "pero" chính là hòn đá tảng, trong Công giáo với Đạo giáo, Đá được dụng với tượng trưng như địa vị, chức tước.
          Ở thế kỷ XIV tại Châu Âu, Công giáo đang hưng thịnh người ta đã xây dựng một vườn địa đàng mà ở trong đó Đá được sử dụng như một phép màu trong việc tu luyện, đồng thời Đá cũng được sử dụng để chữa bách bệnh. Ở Việt Nam do địa hình, địa mạo, từ xa xưa người Việt đã đến với Đá như một chỗ dựa mang tính tinh thần, mang tính tôn giáo (có lễ nghi), và từ đời nọ nối tiếp đời kia  đến với Đá được an lành, được che chở, được gửi gắm và cầu nguyện, tin rằng nếu chân thành sẽ được linh ứng. Cũng từ đó người ta coi Đá là điểm tựa về mặt tâm linh, và song hành với tục thờ Mẫu thì tục thờ Đá cũng ra đời.
          Ta có thể thấy tục thờ Đá hiện nay biểu hiện còn lại ở các vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong các hang động ... Tiêu biểu là vùng Nam Trung Bộ, ở vùng đồng bào dân tộc Chăm có tục thờ các bộ phận sinh dục của đàn ông, đàn bà trong tín ngưỡng "phồn thực" các viên Đá mang hình người mang biểu tượng như thần đất, thần rừng, được thờ để cầu mùa màng bội thu cuộc sống no ấm. Điển hình là chùa Hương, tại động chính có những khối thạch nhũ mang ý nghĩa tâm linh được huyền thoại hóa với tục thờ Mẫu như "đụn gạo" "cây vàng" "cây bạc" đã đi vào đời sống tâm linh từ ngàn năm nay. Ở Lạng Sơn có nàng "Tô Thị", ở Thanh Hóa có "hòn vong phu"...Và mang đậm tính tâm linh hơn là khu di tích Đền Sinh, Đền Hóa tại thôn An Mầu, xã Lê Lợi, Huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Nơi đây thờ khối đá hình người phụ nữ đang sinh nở. Tương truyền là dấu tích của Đức thánh Phi Hồng. Tại đây ai hiếm muộn về đường con cái, thành tâm làm lễ cầu tự thì đến 70% được toại nguyện (báo Khoa học và Đời sống ngày 26/6/2012). Tại khi di tích thành Cổ Loa, Hà Nội có am thờ một viên đá cụt đầu gọi là am Mị Châu. Ai thành tâm cầu duyên đều được toại nguyện (Báo Khoa học và Đời sống ngày 24/7/2012). Tại xã Vân Hòa, Ba Vì, Hà Nội có dãy núi mang hình bộ ngực khổng lồ của người phụ nữ. Xuống phía dưới là một cái giếng đá mà theo tiếng Mường cổ có tên Phò Ché quanh năm đầy nước trong khi cả vùng bị hạn hán. Theo quan niệm dân gian, nếu lấy nước ở giếng đó về dùng trong ăn uống sẽ được khỏe mạnh và ngăn được bệnh tật. Nhưng nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt (có một người đàn ông đến Giếng cởi quần áo tắm và ngay lập tực bị một bệnh lạ đã chữa ở nhiều nơi nhưng bệnh không khỏi). Vì thế Giếng này càng thiêng hóa và đi vào tín ngưỡng của khu vực (báo KHĐS ngày 5/6/2012). Còn rất nhiều tư liệu khác miêu tả tục thờ Đá, sự kính trọng Đá mang tính tâm linh ở khắp các miền đất nước, đã và đang tồn tại từ xa xưa được linh ứng hóa, huyền thoại hóa...song hành với các lễ nghi tập tục khác trong sự phát triển văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Ta có thể nói tục thờ Mẫu là hình thức thờ cúng đặc trưng của các dân cư nông nghiệp, thể hiện lòng kính trọng với quyền năng sinh sản và lòng biết ơn tổ tiên. Tín ngưỡng thờ Mẫu thuần túy là trong các phủ: Phủ Dầy, Phủ Sòng, Phủ Tây Hồ. Thờ Mẫu còn gắn với các tín ngưỡng khác. Đền Mẫu thường nằm bên cạnh hoặc sau điện thờ Phật thờ các vị anh hùng dân tộc. Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng có mối quan hệ và nhiều khi đồng nhất với tín ngưỡng thờ Đá hay có liên quan đến tục thờ Đá ví như hình thức thờ: "Kì thạch phu nhân" của vùng Nam Trung Bộ hay truyền thuyết Hai Bà Trưng sau khi chết linh hồn kết thành Đá trôi theo dòng đến Thăng Long được dân làng Đồng Nhân vớt lên...(tượng thờ Phật Bà được đào thấy ở chùa Bà Đá).
          Chúng ta biết tất cả những khối Đá dược sùng kính đi vào đời sống tâm linh đều là nhưng viên Đá nguyên vẹn (con người chưa tác động) do trời đất sinh ra qua năm tháng được mài giũa của mưa gió, nhiệt độ mang hình hài có tính nghệ thuật cao, có quyền uy trong đời sống tâm linh của người Việt.
          Điều đặc biệt không một viên đá nào giống nhau. Mỗi viên có một nghệ thuật sắc thái riêng đi sâu vào tiềm thức con người trong tục thờ Đá. Như vậy, rõ ràng Đá ứng với câu “Trời sinh hình, Đất sinh tượng”, mà Đá là tượng tức là mang một thông điệp tâm linh khác nhau (như đã nêu ở trên).
          Mỗi viên Đá là một tiểu vũ trụ, ở đây ẩn chứa bao thông tin cấu trúc vật chất, năng lượng đặc thù (mà chỉ chiêm nghiệm theo thời gian) hình dạng màu sắc nghệ thuật, nghệ thuật của thiên nhiên được gọi là Kì Thạch. Ở đây chữ Kì được hiểu là kì lạ, kị dị, kì công.
3. Kì Thạch
          Tất cả những viên Đá nói chung hay một tập hợp những viên đá trong hang động, ở bãi đá được huyền thoại hóa để đưa vào đời sống tâm linh trong tục thờ Đá đều gần như nguyên vẹn và nó mang tính trường tồn. Vì thế nó được đưa vào tín ngưỡng để tồn tại đến ngày nay và được gọi là Kì Thạch. Kì Thạch là con đẻ của Đá, là thông điệp của thiên nhiên.
          Thông qua những viên Đá có tính nghệ thuật cao như hình người, hình thú, thậm chí hoa văn trên Đá có cả nội dung của một câu chuyện. Sự hình thành ra Kì Thạch phải mất vài chục nghìn năm, thậm chí hàng trăm triệu năm. Kì Thạch Việt Nam có tất cả trong các tập địa chất như ru bi, saphia, đến bán quý như caseđôn, mã não, thạch anh…cho đến các tập khoáng vật và kể cả đá vôi. Để đánh giá Kì thạch phải dựa vào 6 tiêu chí sau đây:
          Tiêu chí 1: Hình – Tiêu chí này thể hiện tính nghệ thuật của viên Đá, chủ đề của viên Đá muốn nói, ví như có viên Đá hình người, hình mãnh sư, thậm chí hình một triết nhân trầm tư.
          Tiêu chí 2: Thể - Nói lên cấu trúc của viên Đá. Tuổi địa chất của viên Đá. Nơi viên đá được sinh ra.
          Tiêu chí 3. Màu – Đá có tất cả các màu. Trong cùng một loại đá cũng có các màu khác nhau, nói lên giá trị của viên đá.
          Tiêu chí 4. Chất – nói lên bản chất cấu tạo của viên đá (giá trị của viên đá, độ trong, độ cứng càng cao, độ đồng đều càng cao thì giá trị viên đá càng lớn) thường lấy độ cứng theo thang Mohs – kim cương là 10. Như rubi, saphia có độ cứng là 9, thạch anh có độ cứng là 7…
          Tiêu chí 5. Hoa văn – là hình vẽ trên đá do các lớp vật chất khác nhau tạo nên. Hoa văn họa tiết càng đẹp càng gần với các huyền thoại hay truyền thuyết thì giá trị viên đá càng lớn được gọi là Kì thư.
          Tiêu chí 6. Độ hi hữu – Hay là độ hiếm có, càng độc về hình, về chất, thì giá trị càng cao. Tiêu chí này cũng thể hiện cái duyên của người đến với Đá (quý vật tìm quý nhân).
          Ở Kỳ Thạch sự hấp dẫn đầu tiên là nghệ thuật, nghệ thuật thiên tạo, và kì lạ bởi không có viên đá nào giống viên đá nào. Ở một viên đá với góc nhìn khác nhau dù một thể đứng hay thể nằm đã cho những nội dung nghệ thuật khác nhau. Đấy chính là sự hấp dẫn của nó. Không phải bỗng dưng người ta không dùng từ xem Đá mà dùng từ thưởng lãm. Kì Thạch là nghệ thuật của nghệ thuật, nó có cái đẹp về hình, cái đẹp về chất, về màu, lại mang nội dung văn hóa và tính giáo dục khác nhau nhưng đều do thiên tạo.
          Thưởng lãm một tác phẩm Kỳ Thạch cho ta suy tưởng sự hình thành tạo ra nó. Rồi khám phá những thông điệp mà Đá muốn nói của một viên Đá hoặc một cụm Đá. Bản chất của Đá là vô ngôn, tĩnh lặng, nhưng Đá càng không nói con người càng muốn khám phá, có những viên Đá tình cờ giống người, giống thú, giống một bức tranh. Tất cả tạo nên những thông điệp sâu sắc. Chẳng hạn viên Đá hình Mẫu tử. Khi ngắm Đá cho ta suy nghĩ về cuộc sống “chữ hiếu” phải đặt lên hàng đầu.
          Đặc điểm cơ bản của đá là cứng rắn và có tính trường tồn theo thời gian. Con người đến với đá “Kì Thạch” ngoài tính nghệ thuật, tính giáo dục có thể phải dựa vào đó và coi như có một vị thần đang ở trong Đá tạo ra (phần sau sẽ trình bày tại sao).
          Kì Thạch là con đẻ của Đá, mà Đá là đặc trưng cơ bản của núi (núi đá). Mà nói Đá là chốn linh thiêng là nơi thông linh giữa Trời và Đất. Cho nên Kì Thạch là phương tiện để truyền đạt những mong muốn của con người với các thế lực siêu nhiên khác. Đấy chính là sự hấp dẫn, sự sùng bái (nếu hiểu biết) với Đá nói chung và Kì Thạch nói riêng.
          Một viên đá khi đạt được 6 tiêu chí (thiên nhiên nuôi dưỡng tại hiện trường) được con người tôn tạo (trong bộ sưu tầm của cá nhân) thì trở thành một tác phẩm Kỳ Thạch có giá trị. Ở đây, ta hiểu rằng sự tôn tạo nuôi dưỡng, sự lược bỏ phần thừa của một tác phẩm không được quá 20% phải đảm bảo tính bản quyền của thiên nhiên, sau đó dày công nuôi dưỡng để thành một tác phẩm có chủ đề hoặc một cụm tác phẩm để phản ánh nội dung.
          Bản thân một viên đá đạt được (6 tiêu chí) có ý nghĩa giáo dục (văn hóa) như mẹ con, thầy trò. Nó còn có năng lực đặc thù do hấp thu năng lượng từ vũ trụ và từ lòng đất sau một thời gian dài kể từ khi nó được sinh ra. Cùng với sự tương tác giữa các lớp vật chất khác nhau tạo ra năng lượng đặc thù của nó. Nếu ta hiểu biết Đá, nếu Đá được đặt đúng chỗ (nhất vị, nhì hướng) đúng với đối tượng con người và không gian sinh tồn thì phát huy hết tác dụng của nó, giúp cho chủ nhân (người), chủ thể (không gian) có Đá, hiệu quả sẽ được một năng lượng tốt (năng lượng được hiểu là khí và tia).
4. Kì thạch và vấn đề xây dựng bộ môn Thạch Đạo Việt và ứng dụng.
          Được thừa hưởng tục thờ đá của ông cha để lại, nghiên cứu, tìm hiểu thêm cho ta thấy một số vấn đề như sau:
          a/ Tất cả các mẫu Đá (tác phẩm) được thờ hoặc được sưu tầm đều giữ nguyên hình hài và mang những thông điệp sâu sắc ví như huyền thoại theo sau nó mang lại.
          b/ Đá gắn bó với đời sống tâm linh sâu đậm và được truyền từ đời nọ sang đời kia. Tục thờ Đá của tín ngưỡng người Việt đồng thời hòa đồng và tôn vinh các lễ nghi tìn ngưỡng khác như thờ Mẫu, thờ các anh hùng, danh nhân, thậm chí hòa trong Phật giáo. Đạo giáo mà không làm mất đi bản sắc riêng của Đá. Chưa kể Đá được chế tác hình người, hình thú để phục vụ các mục đích tôn giáo.
          c/ Thời gian sinh ra Đá có trước loài người, giá trị lớn nhất của Đá là tính trường tồn. Những di sản xa xưa còn lại đến ngày nay qua bao tháng ngày là Đá và nó còn trường tồn tiếp tục với thời gian.
          d/ Bản thân Kì Thạch ngoài giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa và vị trí trong đời sống tâm linh của cư dân nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, mỗi loại kỳ thạch (theo 6 tiêu chí) có những năng lượng đặc thù riêng được gọi là linh khí mà Kì Thạch tích tụ được qua quá trình hình thành (xác định được bằng phương pháp thiền, cảm xạ, nhân điện). Ở đây, ta loại trừ các loại Đá có chất phóng xạ.
5. Trong quá trình nghiên cứu sưu tầm cho thấy:
a. Tục thờ Đá có căn nguyên của nó và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
b. Đá có tính trường tồn và tính mầu nhiệm.
c. Đá có năng lượng đặc thù và sự quyền uy.
d. Đá hòa đồng với các tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng khác mà không làm mất đi bản sắc riêng của mình, ngược lại thông qua Đá các tín ngưỡng khác được suy tôn, trường tồn.
          Để hiểu sâu sắc và phát huy tục thờ Đá của người Việt, bảo tồn những báu vật của thiên nhiên và ứng dụng trong cuộc sống sau một thời gian dài nghiên cứu khảo nghiệm qua thực tiễn thấy cần thiết phải chính luận hóa về Đá nói chung và Kỳ Thạch nói riêng. Chúng tôi đã bước đầu xây dựng Bộ môn Thạch đạo Việt.
Nội dung chính của Bộ môn Thạch Đạo Việt.
Những cơ sở chính của Bộ môn:
          1- Đá mang tính trường tồn.
          2- Kì Thạch là thông điệp của thiên nhiên (ở trời sinh hình, ở đất sinh tượng. Đá là tượng của đất).
          Vì vậy Bộ môn Thạch Đạo Việt là: Bộ môn đi tìm thông điệp của thiên nhiên – những quy luật của tạo hóa giúp con người hiểu biết về thiên nhiên, về tạo hóa để phát triển một cách bền vững thông qua sự giao hòa giữa con người với một tác phẩm Kì Thạch hoặc một cụm tác phẩm cho một mục đích.
Thạch đạo Việt gồm: 5 lớp lang
1. Thạch Mỹ: Tìm cái đẹp của Đá – tính nghệ thuật (đây là nghệ thuật thiên tạo)
2. Thạch Văn: Tính giáo dục của Đá thông qua các chủ đề huyền thoại, tập tục.
3. Thạch Kiến: Cấu trúc của Đá - tính khoa học
4. Thạch Pháp: Quyền uy của Đá – tính tâm linh
5. Thạch Y: Năng lượng của Đá ảnh hưởng tới sức khỏe con người – tính khoa học.
Tổng hòa 5 lớp lang trên. Đá được ứng dụng như:  vị thuốc nam, thuốc Bắc trong không gian sinh tồn góp phần xây dựng phúc trạch cho một cá nhân gia đình và xã hội.
Cụ thể:
1. Năng lượng của Đá cho chất và màu quy định ứng với ngũ hành về màu, về hình- Đá có năng lượng âm, năng lực dương (kiến thức cảm xạ- nhân điện).
2. Hướng và vị trí đặt Đá: Để phát huy hết tác dụng của Đá trong không gian sinh tồn tuân theo bát trạch (bốn phương – tám hướng – hai mươi tư sơn) sao cho phù hợp – thuận thì kích hoạt gia tăng linh khí tốt, nghịch thì hạn chế ngăn chặn khí xấu, khí không hợp.
3. Không gia sinh tồn được hiểu là nhà ở, khu vực làm việc hoặc một vùng chung cho cộng đồng dân cư.
Không gian sinh tồn gồm 5 cửa:
a. Cửa linh: Nơi thể hiện tôn giáo tín ngưỡng, tập tục truyền thống.
b. Cửa nạp: Bếp, nhà ăn, nơi cung cấp thực phẩm.
c. Cửa dưỡng: Phòng ngủ nơi nghỉ ngơi an dưỡng, vui chơi.
d. Cửa tiếp: Nơi làm việc, phòng khách (nơi chứng minh là ai với cộng đồng xã hội).
e. Cửa xả: Nhà vệ sinh, môi trường cảnh quan.
Năm cửa này thuận theo âm dương ngũ hành thì gọi là ngũ linh, nghịch gọi là ngũ quỷ. Với từng bản mệnh của chủ thể (con người hay cộng đồng).
          Những cơ sở ứng dụng của Thạch Đạo Việt.
          Ta đều biết vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh bát quái (thành hai mươi tư sơn), Bát quái sinh vô lượng (Kinh dịch).
          Trong vận hành của thời gian, giờ sinh, ngày sinh, tháng sinh, năm sinh. Mệnh của con người được gắn với nước, can- mười hai chi cùng với ngũ hành.
          Tổng hợp những điều trên được gọi là mệnh của một con người được lập trình theo thời gian cho một cá thể, gia đình, xã hội, rộng hơn là một tạo hóa với một chủ thể.
          Chủ thể: Con người, gia đình, xã hội đều có bốn đại tứ trụ đó là:
          Phúc: là nền tảng cuộc sống.
          Mệnh: là giờ, ngày tháng năm sinh- không ai giống ai (đây chính là mã hóa của tạo hóa).
          Phong: là môi trường sống và làm việc (kể cả khi mất đi).
          Trí: Kiến thức và trí tuệ (tu tập đức năng thắng số).
          Kì Thạch lúc này đóng vai trò:
          a. Là tác phẩm hoặc một cụm tác phẩm tôn vinh không gian sinh tồn (gia đình hoặc nơi công cộng).
          b. Điều phối lại khí, tăng khí thuận, giảm thiểu khí xấu giúp chủ nhân hoặc người tiệm cận cân bằng âm dương.
          c. Là nơi giao tiếp của thể khí chất và thể khí quang, giúp cân bằng âm dương tăng linh khí trong quá trình tiệm cận hoặc tu tập.
          d. Bảo tồn những báu vật của thiên nhiên cho thế hệ mai sau, (một bộ sưu tập – viện bảo tàng của gia đình, dòng họ như là vật gia bảo truyền từ đời nọ sang đời kia mang tính giáo dục cao).
          Sau một thời gian dài sưu tầm, nghiên cứu phát huy tục thờ Đá, giải thích bằng khoa học, ứng dụng kinh dịch, chu dịch và truyền thống thờ Đá và thưởng lãm Đá của ông cha, tham khảo và học tập các phương pháp ứng xử với Đá của các nước, chúng tôi đã hệ thống mang tính chính luận cho cách ứng xử - sử dụng Kì Thạch trong cuộc sống, như những viên sỏi, hòn đá làm móng cho Bộ môn Thạch Đạo Việt và đã đạt được những kết quả khả quan. Mong muốn ngày càng hoàn thiện hơn cho Bộ môn này.
          Lời kết:
          Với trách nhiệm lớn lao bảo tồn các vật thể thiên nhiên, cụ thể là báu vật Kì Thạch cho thế hệ mai sau, phát huy tục thờ Đá của ông cha ta để lại, hoàn thiện chính luận về tục thờ Đá, chơi Đá, ứng dụng Đá trong phong thủy hy vọng phát triển văn hóa Đá Việt góp một phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam, đậm đà bản sắc dân tộc. Sau một thời gian dài, đơn vị nghiên cứu, sưu tầm Kì Thạch Việt thuộc Trung ương Hội di sản văn hóa Việt nam đã có vài nghìn tác phẩm được trưng bày tại Hoàng Thành Thăng Long (di sản văn hóa thế giới) được gần chục năm này phục vụ đồng bào trong nước và khách quốc tế nhất là các ngày lễ lớn của dân tộc. Đồng thời cùng thực hiện các dự án mang tầm Quốc gia như Cột Đá Thề tại Đền Thượng khu di tích đền Hùng, Phú Thọ và đang xây dựng các dự án Đàn Lạc hồng, Đàn tri ân, Thạch viện và các dự án khác.
          Với một tâm huyết góp phần xây dựng văn hóa Đá Việt, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau, chúng tôi rất mong các cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân quan tâm đến Đá Việt.

Những lời tri ân:
Sơn vô thạch bất kì
Thủy vô Thạch bất thanh
Điền vô thạch bất tú
Gia vô thạch bất phú



[1] Nhà nghiên cứu Thạch học

KHOA HỌC VỀ NHỮNG BÍ ẨN TRONG GIẤC MƠ...

Bài đăng kỷ yếu hội thảo hội nghị KH toàn quốc lần 1 về "Nghiên cứu và ứng dụng khả năng đặc biệt của con người" tháng 12.2016 do Viện NC&ƯDTNCN chủ trì tổ chức.

 KHOA HỌC VỀ NHỮNG BÍ ẨN TRONG GIẤC MƠ -
CÁNH CỬA KHÁM PHÁ THẾ GIỚI TÂM LINH CỦA CON NGƯỜI

Mai Văn Hưng[1]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống của mình ít ai chưa từng có giấc mơ. Có những giấc mơ làm cho người ta khi thức dậy vẫn còn nhớ nhưng thường thì có rất nhiều giấc mơ không còn để lại dấu vết khi người đó thức dậy và họ cứ tưởng là mình không mơ. Có những giấc mơ làm cho người ta khi thức dậy vẫn còn thấy sung sướng, vui mừng, nhưng cũng có những giấc mơ làm cho người ta thấy sợ hãi, lo lắng bồn chồn. Lại có những giấc mơ báo hiệu điềm gở hay điềm hay, việc tốt hay việc xấu. Ví dụ, khi nói về lịch sử của thành Thăng Long (Hà Nội) người ta thường nhắc tới giấc mơ của vị vua anh minh Lý Thái Tổ. Trong giấc mơ, nhà vua thấy có rồng vàng bay lên ở đất La Thành nên ông đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về La Thành vào năm 1010 và đặt tên cho kinh đô mới là Thành Thăng Long… Ông E. Howe khi đang nghiên cứu để chế tạo một máy may và dự định sẽ đục lỗ ở giữa kim may để xâu chỉ. Một hôm, ông giấc mơ thấy mình bị một bọn người dữ dằn bắt đi. Đám người này có mang theo những dao nhọn có lỗ ở đầu dao. Khi tỉnh dậy, Howe hiểu ra và quyết định không đục lỗ ở giữa kim khâu nữa mà phải xẻ lỗ ở đầu kim để dẫn chỉ vào. Trong điển tích văn học, có những giấc mơ được lưu truyền mãi mãi như “Giấc mộng kê vàng”, “Giấc mộng Nam Kha”… Vậy giấc mơ là gì và có gì bên trong nó? Giấc mơ có liên hệ gì với tâm linh của con người? Có thể khám phá thế giới tâm linh thông qua “cánh cửa” giấc mơ chăng?
GIẢI MÃ GIẤC MƠ
Từ trước tới nay, có nhiều tác giả đã nghiên cứu, phân tích và giải mã về giấc mơ. Có người cho rằng giấc mơ là một hiện tượng tâm sinh lí bình thường, có người cho rằng, giấc mơ phản ánh về một căn bệnh ngặt nghèo nào đó. Lại có người cho rằng giấc mơ là sự báo trước một “điềm” nào đó sẽ xảy ra. Ví dụ, người ta thường nói về hình ảnh trong giấc mơ là “Sinh dữ, tử lành”, có nghĩa là nếu khi giấc mơ thấy sự sinh đẻ là báo hiệu về sự không may mắn và sẽ gặp phải “điềm dữ”, còn nếu khi giấc mơ thấy sự chết chóc là báo hiệu về sự may mắn và sẽ gặp được “điềm lành”. Trong Kinh thi có viết “Di huỷ di xà nữ tử chi tường; Duy hùng, duy bi nam tử chi tường”. (Câu này có nghĩa là trong giấc mơ thấy rắn là điềm sinh con gái; còn trong giấc mơ thấy gấu là điềm sinh con trai).
Theo Pavlov, giấc mơ (còn được gọi là giấc mộng, giấc mơ, nằm mơ) là một trạng thái hoạt động đặc biệt của não. Giấc mơ thường xuất hiện trong giấc ngủ nhưng chỉ xuất hiện khi ngủ không say hoặc vào lúc mới ngủ hay khi sắp thức dậy. Còn khi ngủ thật say thì không có giấc mơ.
Đặc điểm của các hình ảnh trong giấc mơ thường mang tính chất phi lí, kì quặc, lắm kiểu và thường che dấu nguồn gốc của tác nhân kích thích. Do đó, trong giấc mơ người ta thường thấy những hiện tượng không thể tưởng tượng được và những mối quan hệ không thể có được trong thực tế. Sở dĩ như vậy là vì khi thức, mỗi tác động của ngoại cảnh đều để lại dấu vết trên vỏ não, trong đó có cả những dấu vết mà ta không ý thức được.
Theo D. Foullkes, giấc mơ không phải là máy chiếu phim chiếu lại các sự kiện đặc biệt mà là hỗn hợp các mảnh vụn của trí nhớ và kiến thức mà bộ não đã dệt nên.
Theo học thuyết của Pavlov thì giấc mơ là một dạng phản ánh đặc biệt của thế giới khách quan khi cơ thể con người đang ngủ. Theo ông, khi con người mới ngủ, quá trình ức chế đó lan rộng trên vỏ não thì những trung khu khi thức hưng phấn mạnh chưa bị ức chế mà vẫn còn hưng phấn. Còn khi con người  sắp thức dậy, trong khi hầu hết các vùng trên vỏ não còn đang bị ức chế thì hưng phấn ở những trung khu này đã được phục hồi. Do những trung khu này hưng phấn mạnh nên nó có thể lan toả ra xung quanh và tình cờ “đánh thức’’ một số trung khu khác một cách ngẫu nhiên, tạo nên một nhóm các trung khu hưng phấn không theo hệ thống lôgic như khi thức. Chính vì vậy mà các hình ảnh, các hiện tượng trong giấc mơ thường phi lí, kì quặc theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia’’. Còn nhà sinh lí học Xechenov đã viết “… Giấc mơ là một sự kết hợp chưa hề xảy ra giữa các hiện tượng đã xảy ra...”
Giấc mơ còn có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau như tinh thần căng thẳng, lo sợ, vui buồn, đói khát, bệnh tật…Ví dụ, khi thức, con người xúc động mạnh về điều gì đó thì khi ngủ người ta thường giấc mơ về điều đó. Giấc mơ cũng có thể xuất hiện do những tác nhân kích thích tác động từ bên ngoài hoặc từ bên trong cơ thể. Ví dụ, khi để ngọn đèn gần chân của có thể mơ thấy đám cháy, còn khi nhỏ một vài giọt nước lạnh vào chân người ta lại mơ thấy mưa dông hay đang vùng vẫy giữa một dòng sông lớn… Ví dụ, trong quyển “Bí ẩn giấc mơ” có kể về giấc mơ của một người phụ nữ đang trong tâm trạng sợ hãi đàn ông vì cô ta có ông bố nghiện rượu và cô ta cho rằng mọi người đàn ông đều nghiện rượu như cha mình. Cô ta đã kể về giấc mơ của mình như sau: “Trời tối đen và tôi bị một người đàn ông tay cầm dao đuổi theo. Tôi quay lại, đối diện với anh ta và bắt anh ta ra ánh sáng. Thế rồi người đàn ông biến thành một vũng nước. Tôi cúi xuống, nếm thử. Đó là rượu Cognac ”.
Khi ngủ, ở con người còn xuất hiện những giấc mơ đặc biệt như hiện tượng “bóng đè”, “mộng du” hoặc “nói mơ”.
BÓNG ĐÈ VỚI TÂM LINH
 Có những trường hợp khi con người đang ngủ bỗng giấc mơ thấy một sự kiện nào đó mà trong sự kiện ấy có một vật nào đó đè lên một bộ phận của cơ thể gây cảm giác rất khó chịu nhưng lại không thể làm cách nào để loại bỏ được vật đó. Hiện tượng này được gọi là “bóng đè”. Bóng đè cũng là một giấc mơ, nhưng trong giấc mơ này chỉ có một vài trung khu ở vùng vỏ não phụ trách cảm giác hưng phấn còn toàn bộ các vùng vỏ não phụ trách vận động ở trạng thái ức chế thực thụ.
Về bản chất khoa học, khi bóng đè xảy ra, vùng vỏ não được kích thích rất mạnh khiến con người trở nên tỉnh táo, không khác gì lúc thức. Thế nhưng lúc đó những mối liên hệ thần kinh giữa não với các bộ phận cơ thể lại chưa được khai thông. Kết quả là người bị bóng đè cảm thấy tê liệt giống như có ai đang đè chặt tay chân mình vậy. Để hiểu sâu bản chất của bóng đè, các nhà khoa học đi vào nghiên cứu các giai đoạn của giấc ngủ. Ở các loài động vật có vú, giấc ngủ được chia làm hai khoảng thời gian: REM (rapid eye movement) và NREM (non-REM). Trong REM, mi mắt của chúng ta cử động nhanh và đây là khoảng thời gian chúng ta nằm mơ. Giai đoạn này, mi mắt hoạt động như thể chúng ta đang “nhìn” những sự vật, sự việc trong giấc mơ của mình vậy. Còn ở giai đoạn NREM, chúng ta ít khi nháy mi mắt nhưng có thể trở mình trên giường, thậm chí mộng du và nói chuyện trong giấc ngủ. Mỗi khi bắt đầu một giấc ngủ, ta bước vào giai đoạn NREM trong 80 phút và nối tiếp sau là 10 phút ở giai đoạn REM. Chu trình 90 phút này cứ lặp đi lặp lại trong suốt giấc ngủ của chúng ta.  
Tại giai đoạn REM (mi mắt chuyển động nhanh), cơ thể tắt đi các liên hệ thần kinh giữa não bộ. Nếu như điều này không xảy ra, chúng ta có thể dùng tay chân lặp lại y hệt những hành động diễn ra trong giấc mơ của mình. Chẳng hạn, một người đàn ông từng mơ thấy mình bị quái vật tấn công và đánh trả lại chúng trong mơ. Nhưng trên thực tế, ông ta đang vô thức đánh người vợ nằm bên cạnh mình.  Nếu bất ngờ tỉnh ngủ đúng vào giai đoạn REM, chúng ta sẽ bị bóng đè do các đường liên hệ thần kinh đang tắt. Vậy còn những hình ảnh và âm thanh ma quái? Các nhà khoa học cho rằng đó thực chất chỉ là những ảo ảnh tạo ra tại vùng vỏ não xử lý hình ảnh và âm thanh. Các nơron thần kinh bị kích thích đã tự động tạo ra những gì chúng ta tưởng là “nghe” hoặc “nhìn” thấy. Sự căng thẳng và lo lắng là nguyên nhân chính dẫn đến việc kích thích các nơron này. Stress là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng bóng đè.

Hình . Bản chất của bóng đè đó là liên hệ thần kinh giữa não bộ
và các cơ quan không được thiết lập.

Nguyên nhân phổ biến dẫn đến bị bóng đè là những căng thẳng, phiền muộn trong cuộc sống không được giải tỏa. Việc sử dụng nhiều các chất kích thích cũng góp phần khiến cho não bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, tư thế ngủ sai cách cũng làm người ngủ cảm thấy khó thở, dễ dẫn đến bóng đè. Chính vì vậy trong giấc ngủ, con người  chỉ giấc mơ thấy cảm giác khá rõ nhưng lại không sao cử động được. Bóng đè có thể do nhiều nguyên nhân như khi con người bị bệnh tim, khi ngủ để tay lên trán hoặc lên ngực, suy nhược cơ thể, mệt mỏi, lo lắng...
Tuy nhiên nguyên nhân thực sự của bóng đè có thể liên quan đến những bí ẩn trong tâm linh, bởi thực tế có những người khỏe mạnh vẫn bị bóng đè. Thực chất về mặt khoa học thần kinh thì bóng đè chính là quá trình ức chế sâu hệ thống thần kinh cấp cao có sự định vị ở vùng vỏ não, do vậy qua những chỉ dấu của bóng đè có thể giải thích các hiện tượng trầm cảm, tự ti những nhận thức bản ngã tâm linh, sự chiêm nghiệm vô thức của con người. Hiện tượng lên đồng được coi là sự thăng hoa phần hồn có tính chất phản ứng ngược với ức chế nhằm cân bằng động trong qui luật hoạt động của hệ thần kinh cấp cao.
MỘNG DU VÀ KHẢ NĂNG THIÊN BẨM
Mộng du cũng là một giấc mơ nhưng trong giấc mơ này chỉ có một vài trung khu ở vùng vỏ não phụ trách vận động hưng phấn còn toàn bộ vùng vỏ não phụ trách cảm giác ở trạng thái ức chế thực thụ. Vì vậy, trong giấc ngủ con người chỉ giấc mơ thấy mình đang vận động. Người  mộng du thường đứng dậy, làm một số việc, đi lại... rồi lại ngủ tiếp và sáng hôm sau, khi thức dậy không còn nhớ gì về sự việc trong mộng. Ở qua các lứa tuổi, có con người trong giấc mộng du đã múa một lúc rồi lại ngủ như thường. Có cháu khi mộng du còn đi ra gốc cây sung ở góc bờ ao ngồi. Khi gió lạnh thổi tới thì cháu tỉnh dậy và kêu khóc v.v…Theo quan điểm duy tâm, những trường hợp như vậy thường được người lớn cho rằng có “ma trêu, quỷ ám” và tìm thầy xem bói, thầy cúng đến cúng lễ, yểm bùa để “trừ ma, diệt quỷ”. Tất nhiên, đó là những chuyện duy tâm, phản khoa học bởi vì trong những giấc mơ có những người còn làm được một số việc, trèo lên cây hái quả hoặc ngồi vào bàn viết lời giải của những bài tập khó mà ban ngày họ đã không thể làm được. Trong lịch sử của con người cũng đã có những phát minh khoa học được nảy sinh trong giấc mơ. Đây có thể nói nó chính là những cánh cửa mở ra để chúng ta có thể khám phá thế giới tâm linh vô cùng bí ẩn của con người.
Có thể thấy rất rõ là trong điều kiện thông thường con người chỉ làm được những việc “bình thường”, những chuyện phi thường chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện khác thường, sở dĩ như vậy là vì bản thân trong mỗi con người đã có những khả năng đặc biệt (xuất hiện trong giấc mơ) có tính chất thiên bẩm, vượt giới hạn thông thường. Như vậy để con người xuất hiện những khả năng kì lạ cần có những thay đổi mang tính đột biến của môi trường tác động tới. Điều này đã chứng minh cho thực tế là có một số người khi trải qua những bước ngoặt như ốm thập tử nhất sinh, bị sét đánh, bị mất tích bí ẩn,…sau đó họ có những khả năng kì lạ.


NÓI MƠ VÀ HIỆN TƯỢNG GỌI HỒN
         Chính nói mơ cũng là một trạng thái của giấc mộng du, nhưng trong giấc mơ này chỉ có một vài trung khu ở vùng vỏ não phụ trách vận động nói ở trong trạng thái hưng phấn còn toàn bộ vùng vỏ não phụ trách cảm giác và vùng vỏ não phụ trách vận động ở trạng thái ức chế thực thụ. Chính vì vậy trong giấc mơ, con người thường nói ú ớ không thành tiếng nhưng cũng có khi nói thành các từ rõ ràng và thậm chí còn nói được cả một câu hay hát một đoạn. Sau đó, người nói mơ lại ngủ tiếp và khi thức dậy không còn nhớ gì về những điều mình đã nói.
          Khi nghiên cứu về giấc mơ, người ta còn nhận thấy có những giấc mơ thể hiện cả tính chất cảm giác và cả tính chất hành động. Nghiên cứu giấc mơ của những người già, C.Schenck đã xác định điều đó. Trong thí nghiệm của ông, có trường hợp, người tham gia thí nghiệm là nam giới, 69 tuổi, đã kể lại giấc mơ của mình về trận chơi đá cầu: “Tôi là trung vệ. Lúc đó hậu vệ cánh ném bóng cho tôi. Trước mặt tôi là một đối thủ nặng đến 280kg. Tôi lấy hết sức dùng vai hất hắn ra và làm mọi cách cho hắn ngã... Lúc tỉnh giấc thì tôi thấy mình đã đập vỡ đèn, kính và mọi thứ trên bàn ngủ, cụng đầu vào tường và dùng đầu gối giao chiến với cái bàn ngủ”.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giấc mơ, như giới tính, tuổi tác, tâm trạng... Carliostro, tác giả của cuốn sách “Bí ẩn giấc mơ” cho rằng hình ảnh trong giấc mơ của nam giới và nữ giới có sự khác nhau. Nữ giới thường mơ về những điều có liên quan đến cuộc sống của gia đình và những chuyện riêng tư của bản thân họ. Giấc mơ của nữ giới đọng đầy dấu ấn đàm thoại và các cảm xúc. Còn nam giới thường mơ về những điều có liên quan đến các hình ảnh máy móc.
          Giấc mơ của con người còn phụ thuộc vào lứa tuổi của chúng. Nghiên cứu giấc mơ của con người ở giai đoạn 3 - 4 tuổi, D. Foullkes thấy rằng giấc mơ của chúng giống như các tấm ảnh vạn vật, giống như chiếu “Slide”. Trong giấc mơ của chúng có một số hình ảnh của các sự vật trong thực tế khách quan nhưng lại không hề có hình ảnh của bản thân chúng. Đến giai đoạn 7 - 8 tuổi, một số con người đã thấy mình xuất hiện trong mơ. Và từ 9 tuổi trở đi, con người đã có những giấc mơ có tính chất như giấc mơ của người lớn.
Chính những thông tin ngôn ngữ xuất hiện trong giấc mơ có cơ sở khoa học là sự hoạt động của nơron theo nguyên tắc thu và phát sóng của transitor, các sóng này được mã hóa (thành sóng) và giải mã thành ngôn ngữ (lời nói). Trên cơ sở này có thể giải thích cho hiện tượng gọi hồn thường xảy ra khi “những người có cùng tần số sóng điện não” khi một người đã mất và người kia còn sống. Nếu 2 người này các nơron của họ có cùng trường hoạt động do họ có tần số sóng điện não gần nhau thì người ta có thể giao tiếp với nhau qua trường sóng điện não và các sóng giao tiếp này có thể được giải mã thành ngôn ngữ của người sống. Tuy nhiên, sóng có thể yếu dần đi hoặc biến mất cùng với sự phân hủy của nơron người chết hay sự chết của nhiều nơron ở người sống dẫn đến ảnh hưởng đến quá trình giải mã vì thế người có khả năng gọi hồn có thể bị mất đi hoặc không còn chính xác nữa. 


KẾT LUẬN
Giấc mơ là sự phản ánh một cách đặc biệt thế giới khách quan mà não của con người “ghi được” khi thức. Trong giấc mơ người ta suy nghĩ chủ yếu bằng hình ảnh và nhất là các hình ảnh thị giác. Nhưng trong giấc mơ, người ta lại thiếu sự phê phán với những điều vô lí về quan hệ không gian cũng như về quan hệ thời gian. Giấc mơ là một hình thức phản ánh thế giới khách quan. Bởi vậy, những người mù bẩm sinh, chưa từng nhìn thấy bao giờ và trong não của họ chưa hề có dấu vết về ánh sáng thì trong giấc mơ của họ không hề có các hình ảnh về thị giác. Với những người điếc bẩm sinh, chưa từng nghe thấy bao giờ và trong não của họ chưa hề có dấu vết về âm thanh thì trong giấc mơ của họ không hề có các biểu tượng về âm thanh. Trong giấc mơ đã xuất hiện các hiện tượng bóng đè, nói mơ, mộng du,..đây chính là những biểu hiện hành vi trong khi ngủ nó có liên quan đến các hiện tượng tâm linh của với con người do đó có thể coi những gì xảy ra trong giấc mơ chính là những chỉ dấu giúp chúng ta có thể khám phá thế giới tâm linh bí ẩn của mỗi con người.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. E.I. Caroll. Những cảm xúc của con người. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1992.
2. Trịnh Bỉnh Dy. Quá trình hình thành tư duy, trong quyển “Chuyên đề sinh lí học” T.1, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 187 – 199, 1996.
3. Mai Văn Hưng (chủ biên). Sinh lý học thần kinh và giác quan. Nxb ĐHSP 2014.
4. E.D. Khomoxkaia. Các thuỳ trán và những quá trình hoạt động trí tuệ tích cực, Nxb Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, 1972.
5. Đặng Phương Kiệt. Cơ sở sinh lí thần kinh của hoạt động tâm lí, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1990.
6. Tạ Thuý Lan. Sinh lí thần kinh, T.I, T.II. Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007.
7. Lê Quang Long. Hoá điện phản xạ và trí nhớ. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1983.
8. Nguyễn Khắc Viện. Tìm hiểu con người. Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1983.
9. Howard Gardner. Frames of mine, the theory of multiple intelligences. A division of haper Collins Publisher, 1993.
10. K.S. Lashley. Brain mechanisms and intelligence. Hafner Publishing Company, New York and London, 1964.
11. J. Piaget. The Psychology of intelligence. New York, 1963.
12. J.P. Schadè, D.H. Ford, Basic neurology. Elsevier scientific publishing company, Amsterdam – Lodon - New York, 1973.
13. П.К. Анохин (1968), Биология и нейрофизиология условного рефлекса, изд. Медицина,Москва.
14. Е.Б. Бабский, А.А. Зубков, Г.И. Косицский, Физиология человека и животных. Изд. “Медицина”, М, T. 2, 1989
15. C. Бородки, П..В. Будзен. Механизм памяти, Изд. Наука, Ленинград, 1978.


[1] PGS TS, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nhân chủng và Phát triển trí tuệ - Trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội


NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CỦA bm NĂNG LƯỢNG SINH HỌC

Bài đăng kỷ yếu hội thảo hội nghị KH toàn quốc "Nghiên cứu và ứng dụng khả năng đặc biệt của con người" do Viện NC&ƯDTNCN chủ trì tổ chức tháng 12.2016.

NHỮNG ĐÓNG GÓP TRONG NGHIÊN CỨU & ỨNG DỤNG CỦA
     BỘ MÔN NĂNG LƯỢNG SINH HỌC TRONG 20 NĂM QUA
                                                                                                Bùi Hoàng Oanh[1], Đoàn Thanh Hương[2]          
GIỚI THIỆU
Năm 1996, một đơn vị nghiên cứu về Năng lượng sinh học (Bộ môn NLSH) được thành lập tại Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người (TNCN) và đã được nối tiếp hoạt động tại Viện Nghiên cứu và Ứng dụng TNCN từ năm 2012 cho đến nay. 
Chủ nhiệm Bộ môn cũng đã có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn: Người đầu tiên là cố Bác sĩ - Đại tá  Hà Ngạc, tiếp theo là cố Bác sĩ - Đại tá Lương Đình Du (1998) rồi đến cố GS.TSKH Lê Xuân Tú sau khi Bộ môn sát nhập thêm bộ phận nghiên cứu về Năng lượng cảm xạ và Dịch học (2000).       
Từ 2007, PGS TS Bùi Hoàng Oanh được giao “Quyền chủ nhiệm” bộ môn. Các  Phó chủ nhiệm Lương y Nguyễn Hồng Quang, cử nhân Đoàn Thanh Hương và về sau đã cử thêm  một PCN nữa là KS Đỗ Trọng Khuê.
Bên cạnh hoạt động nghiên cứu, Bộ môn cũng đỡ đầu cho một số Câu lạc bộ (CLB), trong đó có CLB Năng lượng sinh học tại thị trấn Xuân Mai, Hà Nội, CLB Năng lượng sinh hoc & Cảm xạ TP. Hồ Chí Minh, CLB Cảm xạ & Dịch học tại Hà Nội và đã tập hợp được một đội ngũ cộng tác viên đông đảo trên toàn quốc đóng góp cho các hoạt động triển khai ứng dụng.
Sau khi chuyển sang Viện Nghiên cứu và Ứng dụng TNCN năm 2012, Bộ môn được Viện sắp xếp lại thành hai đơn vị, trong đó bộ phận nghiên cứu chuyên sâu về “Năng lượng sinh học” trở thành bộ môn độc lập do cử nhân Đoàn Thanh Hương làm chủ nhiệm.
Trong gần 20 năm qua, Bộ môn đã có những đóng góp  chủ yếu trong các lĩnh vực:
- Nghiên cứu Năng lượng sinh học trong việc nâng cao sức khỏe và hỗ trợ chữa bệnh.
- Nghiên cứu Cảm xạ và Dịch học trong việc nâng cao sức khỏe và những mục tiêu khác.
Trong bản báo cáo mang tính tổng quan sau đây sẽ hệ thống lại những nội dung và kết quả nghiên cứu - ứng dụng chính đã được tiến hành trong gần 20 năm qua thuộc các lĩnh vực trên, trong đó phần lớn các vấn đề là những đề tài đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Bộ môn [1].
II. CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NÂNG CAO SỨC KHỎE VÀ HỖ TRỢ CHỮA BỆNH
Nhóm đề tài này bao gồm các phương pháp “truyền năng lượng” trực tiếp hoặc gián tiếp từ người có năng lực chữa bệnh sang người bệnh. “Năng lượng” này có thể đưa tới người được hỗ trợ theo các phương thức khác nhau:
- Bằng tác động “khai mở” để người được hỗ trợ có thể tiếp nhận và tăng cường “năng lượng” chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho mình. Người được khai mở cũng có thể tiếp tục truyền năng lượng để hỗ trợ cho người khác (Phương pháp “truyền nhân điện” hay “phát khí công”).
- Bằng luyện tập phát huy tiềm năng nội lực, tự  “khai mở” để tiếp nhận, tăng cường “Năng lượng” tự chữa bệnh nâng cao sức khỏe, không phụ thuộc người khác (Phương pháp Thanh lọc ô trược độc tố bằng Sức mạnh vô thức [4])
- Bằng tiếp nhận “năng lượng” từ một nguồn bên ngoài thông qua một đối tượng trung gian (người thực hành “chữa bệnh”). Ở đây, người thực hành “chữa bệnh” chỉ đóng vai trò chuyển tiếp dòng “năng lượng” từ bên ngoài cho người bệnh mà bản thân không sản sinh và không bị tiêu hao năng lượng (Phương pháp Thiền dưỡng sinh Dasira Narada).
- Bằng cách thiền theo Phương pháp Bruno Groning [3]. 
          Cho đến nay khái niệm “Nhân điện” mới chỉ được hiểu một cách tương đối và mang tính quy ước vì cũng chưa có một thực nghiệm hay một phép đo nào chứng minh việc truyền nhân điện được thực hiện thông qna việc truyền năng lượng điện. Chính vì vậy, một trong những nội dung nghiên cứu trong những năm vừa qua của các cán bộ trong Bộ môn cũng là làm sáng tỏ thêm bản chất của nhân điện và các mặt tích cực hay “hạn chế” của phương pháp này. 
1. Các nghiên cứu về “nhân điện”
Các cán bộ chủ chốt làm chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu nhân điện gồm: Cố Đại tá Bác sĩ Lương Đình Du, cố GS.TS KH Lê Xuân Tú, Cử nhân Đoàn Thanh Hương và một số cán bộ khác.
Đề tài 1: “Nghiên cứu tìm hiểu tác dụng của nhân điện với bệnh tăng huyết áp động mạch vành”, do cố Đại tá Bác sĩ Lương Đình Du và cộng sự thực hiện.
Qua thực nghiệm điều trị 20 bệnh nhân tăng huyết áp động mạch vành nguyên phát, độ I-II bằng NLSH, kết quả ban đầu thu được:
- Tác dụng tức thì sau 30-60 phút điều trị lần đầu
- Mỗi đợt điều trị 7-8 ngày trở lên, mỗi lần 10 phút.
Mỗi lần điều trị, bệnh nhân có cảm giác khoan khoái, hết nhức đầu, không còn mất ngủ.
 Đề tài 2: “Nghiên cứu tìm hiểu khả năng tác động của nhân điện với bệnh u phì đại lành tính tuyến tiền liệt” do cố Đại tá Bác sĩ Lương Đình Du và cộng sự thực hiện .
Qua thực nghiệm điều trị 18 bệnh nhân, có 12 người (67%) có khối u giảm được 8g-12g, 4 bệnh nhân có khối u không giảm, 2 bệnh nhân có khối u tăng.
Tác dụng của NLSH có thể phục hồi chức năng cơ thể:
-  Làm giảm khối u.
- Tăng khả năng trương lực cơ, chủ yếu vùng tiết niệu
          - Tăng hoạt động thần kinh khu vực và tuần hoàn máu.
          - Giảm nhẹ các triệu chứng rối loạn tiểu tiện.
Đề tài 3: “Bước đầu nghiên cứu tìm hiểu khả năng làm giảm đau, rút ngắn thời gian đau sau chấn thương” do cố Đại tá Bác sĩ Lương Đình Du và cộng sự thực hiện.  
 Đề tài đã nghiên cứu phương pháp cắt giảm cơn đau không dùng thuốc. Đề tài được sự ủng hộ và hợp tác rất cao của Bệnh viện Quân đội 354. Đã có 25 bệnh nhân sau phẫu thuật, chấn thương trải nghiệm,  trong đó 5 trường hợp ung thư được tác động trực tiếp, một số bệnh nhân được tác động làm giảm đau từ xa. Tất cả các trường hợp trên đều có hiệu quả làm giảm và cắt cơn đau. Quá trình nghiên cứu đề tài đã rút ra một số kết luận như sau:
       - Có thể làm giảm nhẹ các triệu chứng lâm sàng về rối loạn huyết áp, rối loạn tiểu tiện,  làm giảm đau, giảm khối u của người bệnh , tuy hiệu quả chưa đồng đều và chưa cao.
      - Quá trình sử dụng NLSH để chữa bệnh đã làm thuyên giảm được nhiều bệnh , giúp cho cơ thể người bệnh thanh thản , sảng khoái sau mỗi lần chữa lại  không gây tác dụng phụ,  làm cho người bệnh tăng thêm tin tưởng , kiên trì luyện tập nâng cao sức khỏe.
      - Phương pháp huấn luyện nhanh, thời gian đòi hỏi không dài, kỹ thuật  tập luyện đơn giản, hiệu quả cao và nhất là không có hại gì.
Đề tài 4:  “Khảo sát một số chỉ tiêu sinh hóa của máu dưới tác động của Thiền mở luân xa” do cố GS.TSKH Lê Xuân Tú, cử nhân Đoàn Thanh Hương và PGS. BS. Vũ Thị Phương (Đại học Y Hà Nội)  tiến hành.
Đề tài đã thực hiện 304 lượt xét nghiệm chỉ số máu và huyết thanh của 81 người. Kết quả nghiệm chỉ số TAS (Total Antioxidant Status) của nhóm luyện tập đạt  93,7%, nhóm không luyện tập đạt 29%.
Một số kết luận chung như sau: Luyện tập Thiền khai mở luân xa có tác dụng chống lão hóa rất tốt, có khả năng tự chữa bệnh. Việc truyền nhân điện chữa bệnh có kết quả khỏi một số ca bệnh.
2. Thử nghiệm truyền nhân điện trên một số lĩnh vực: Việc thử nghiệm là bước khởi đầu rất quan trọng, những vấn đề được phát hiện thành công sẽ được phát triển thành một đề tài nghiên cứu. Một số thử nghiệm  “nhân điện” do cử nhân Đoàn Thanh Hương và một số cộng sự thực hiện:
- Thử nghiệm chữa bệnh 6 năm liên tục, từ năm 1998-2004, tại nhiều cơ sở ở Hà Nội như 286 Thụy Khuê, Hội người Cao tuổi phường Nam Đồng, Trung tâm cứu trợ trẻ em tàn tật 76 Phó Đức Chính, với hàng ngàn lượt người đã được chữa bệnh bằng nhân điện. Nhiều trường hợp bệnh đã khỏi mà không cần dùng thuốc.
- Thử nghiệm truyền nhân điện biến nước mặn thành nước ngọt: Một nhóm 10 người thực nghiệm truyền nhân điện vào mẫu nước biển, theo dõi kết quả nhuộm màu nước bằng Bạc Nitrat (AgNO3). Tổng hợp  kết quả sau khi thực hiện trong thời gian 1 tháng, 6 tháng, 1 năm, đều không thấy có chuyển biến. Nhân điện  không làm  được nước mặn thành nước ngọt.
3.  Nghiên cứu và thực nghiệm về “Khí công”
Đề tài 5:Nghiên cứu tác động của “khí công”, kết hợp “tĩnh công dưỡng sinh” đối với bệnh nhân bướu cổ đơn thuần” do Đại tá, BS. Hoàng Trọng Việt, ThS. Nguyễn Quang Thịnh và các cộng sự thực hiện.
Đề tài đã thử nghiệm việc chữa bướu cổ cho số một lượng lớn nhân dân tại một địa phương có nhiều người mắc bệnh ở đồng bằng Bắc bộ, có kết quả đáng được ghi nhận .
Thực nghiệm khí công Y Đạo  do Đại tá Vương Văn Liêu phát triển và thực hiện cho hàng nghìn người luyện tập, phòng chống bệnh tật. Câu lạc bộ Khí công Y đạo đã sinh hoạt đều đặn hàng tháng, và ra Bản tin tháng giúp đỡ học viên luyện tập .
 4. Nghiên cứu phát huy tiềm năng, nội lực của con người  
Đề tài 6: “Nghiên cứu trạng thái ngoài tư duy (vô thức) và một số khả năng đặc biệt, ứng dụng trong đời sống“, do cử nhân Đoàn Thanh Hương và cộng sự thực hiện.
Dựa trên  những quan sát nhiều năm về tiềm năng con người, có thể tạo ra những vận động chuyển hóa năng lượng, tăng sức đề kháng, tự chữa lành bệnh. Đề tài đã trình bày 7 cơ sở lý luận ban đầu về Sức mạnh vô thức có khả năng đào thải ô nhiễm độc tố ra khỏi cơ thể và đề xuất phương pháp Thanh lọc  gồm 5 bước đơn giản, dẫn tới kết quả thanh lọc ô nhiễm độc tố cho con người [4]. Đã thành lập Câu lạc bộ Vô thức để thực nghiệm ứng dụng bài tập Thanh lọc ô trược độc tố, được tổ chức theo từng nhóm dưới 10 người để dễ theo dõi kết quả. Có bản tin hàng tháng trao đổi kinh nghiệm luyện tập. Tất cả thành viên CLB đã được nâng cao sức khỏe, đã khỏi một số bệnh nan y. Đã tổ chức Hội thảo về các hiện tượng thanh lọc ô trược độc tố. Báo “Khoa học và đời sống“ và một số báo khác đã phản ánh gần mười trường hợp bệnh nan y đã tự chữa lành bệnh. Bản thân chủ nhiệm đề tài cũng đã áp dụng để vượt qua bệnh tật ( kết quả đã được kiểm tra bằng chụp cộng hưởng từ). Phương pháp luyện tập đã được biên soạn thành sách và đưa lên trang web sucmanhvothuc.org,  giúp đỡ miễn phí cho nhiều người để tự học và trao đổi kinh nghiệm luyện tập thông qua Internet. Thanh lọc ô trược độc tố là một trong những yếu tố quan trọng để phòng chống bệnh tật, kể cả khả năng hỗ trợ điều trị ung thư.
5. Những điều rút ra được qua việc áp dụng năng lượng sinh học để nâng cao sức khỏe và hỗ trợ chữa bệnh  
Qua các đề tài nghiên cứu và các thực nghiệm trong gần hai chục năm qua, chúng tôi nhận thấy khá rõ mặt tích cực và giá trị lớn của phương pháp sử dụng năng lượng sinh học nói chung để nâng cao sức khỏe, hỗ trợ chống lại nhiều  loại bệnh tật , mang lại lợi ích cho cộng đồng.
Tuy nhiên sau nhiều năm nghiên cứu, chúng tôi không thể không suy nghĩ và tìm hiểu cả mặt hạn chế (các hậu quả không mong muốn) của nhân điện - một trong những phương pháp có vị trí quan trọng trong Năng lượng sinh học.
Một vài tác giả sau một thời gian áp dụng và trải nghiệm đã cảm nhận rằng dùng nhân điện để truyền, chữa cho người bệnh thì sau một thời gian (tùy theo mỗi người) có thể có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân. Điều này đặt ra cho những người thực hiện cần lưu ý và có những giải pháp để phòng ngừa hữu hiệu.
   
III. NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG “ĐẶC BIỆT” 
Đề tài 7: “Nghiên cứu một số tác động đặc biệt của khu vườn Long An” do cử nhân Đoàn Thanh Hương làm chủ nhiệm
Đã xét nghiệm 66 chỉ số sinh hóa máu của 5 người trước và sau khi đến khu vườn trong thời gian  2 tuần. Các xét nghiệm sinh hóa máu về khả năng chống lão hóa, đường huyết, mỡ máu cho thấy cả  5 người đều có kết quả tốt lên . Điều đó phản ánh tác động tốt của môi trường  khu vườn với sức khỏe. Đề tài đã khảo sát 7 trường hợp bệnh nặng và bệnh bẩm sinh đã cho kết quả khả quan (khỏi bệnh).
          Kết quả nghiên cứu khu vườn Long An  mang lại nhận thức rất quan trọng không thể phủ nhận về môi trường sống, có liên quan mật thiết với sức khỏe. Tất cả các phương pháp dưỡng sinh NLSH đều dựa vào mối liên hệ với môi trường sống, phát huy mối liên hệ đó để làm giàu năng lượng cho bản thân, sức đề kháng được tăng lên, và khỏi nhiều bệnh. Những môi trường  giàu năng lượng thiên nhiên như khu vườn Long An là tài nguyên quý, cần được gìn giữ và phát huy lợi ích trong việc nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Đề tài 8: “Theo dõi kết quả khỏi bệnh bẩm sinh và một số ca bệnh đặc biệt tại Khu vườn Long An” do cử nhân Đoàn Thanh Hương làm chủ nhiệm .
Đề tài đã thu thập những tư liệu gồm  những ca bệnh hiểm nghèo :
   -  Bệnh Lupus ban đỏ đã được điều trị tại Singapo 7 lần, mỗi tháng phải  điều trị 18 ngày, bệnh có đỡ, nhưng vẫn phù nề, cơ thể yếu, bác sĩ nói phải uống thuốc suốt đời, tiền thuốc mỗi ngày 1 triệu, nhưng sức khỏe kém, không lao động được. Sau hơn 6 tháng đến ở khu vườn Long An đến nay đã khỏe mạnh.
   -  Người có nhiều bệnh nan y: 19 loại bệnh, suốt 30 năm liên tục chữa bệnh.     
   -  Bệnh nghề nghiệp 20 năm tiếp xúc khí ga, biến chứng 14 loại bệnh .
   -  Bệnh u vú giai đoạn 2: tháng 2 - 2011 đau nặng ung thư sưng to giai đoạn cuối, hạch nổi từ hông đến nách, bác sĩ không mổ.
   - Bệnh nhiễm chất độc da cam, phát ra nhiều bệnh: Tiểu đường, bệnh tim, loãng xương, huyết áp cao, mất ngủ, mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ, hẹp van tim, yếu thận, đi tiểu nhiều , mắt mờ, sức khỏe yếu;
.  - Bệnh thiếu máu từ 18 tháng tuổi, lách sưng to, thừa sắt, điều trị tại Bệnh viện huyết học TƯ, phải truyền máu 2 lần/tuần.
   - Cháu bé 30 tháng tuổi bị u lớn 12 cm, đã tổn thương có hoại tử bên trong., tổn thương các mạch máu lớn trong bụng, rất nhiều hạch bụng.
    - 3 trường hợp câm  điếc bẩm sinh đã khỏi và tiếp tục theo dõi.
Hầu hết các trường hợp trên đã khỏe mạnh, có kết quả xét nghiệm y tế phản ánh các chỉ số đã bình thường. Tác giả còn tiếp tục theo dõi các ca bệnh  này thêm một vài năm sau.
    Kết quả cho thấy:  Có những bệnh hiểm nghèo (đã chữa cả trong và ngoài nước nhưng không khỏi) đã được cải thiện.

IV.  LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG CẢM XẠ VÀ DỊCH HỌC
          Cán bộ nghiên cứu chủ yếu gồm: Lương y Nguyễn Hồng Quang và KS. Đỗ Trọng Khuê cùng với nhiều thành viên  trong CLB như: ông Đỗ Đình Thang, ông Đàm Trung Giai, ông Nguyễn Ngọc Khuê, bà Phùng Thị Lượng v v…,đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu phục vụ cộng đồng, xã hội. Cho đến hiện nay, những nội dung nghiên cứu vẫn đang được nhiều người ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực.
Đề tài 9: “Nghiên cứu thử nghiệm tác động của Năng lượng cảm xạ và Dịch học đối với bệnh nhân tâm thần” do LY. Nguyễn Hồng Quang, KS. Đỗ Trọng Khuê và cộng sự thực hiện.
Sau quá trình nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số nhận định sau :
- Các bệnh nhân tâm thần gần như đều có liên quan đến phần âm
- Qua ảnh, bằng cảm xạ có thể xác định tình trạng của bệnh nhân, tác động qua ảnh để  hóa giải cho bệnh nhân.
- Quẻ dịch có khả năng mang thông tin năng lượng cho việc hoá giải bệnh nhân tâm thần. 
Đề tài 10:Nghiên cứu ứng dụng Năng lượng cảm xạ và Dịch học trong vấn đề hóa giải mâu thuẫn gia đình và xã hội”, do LY. Nguyễn Hồng Quang và cộng sự thực hiện.
     Đề tài dùng các biện pháp hoá giải bằng dịch lý, bố trí phong thuỷ hợp lý đã mang lại hạnh phúc cho nhiều gia đình không bị ly tán, không còn mâu thuẫn trong nội bộ các thành viên trong gia đình hoặc tập thể lãnh đạo của cơ quan. Để thực hiện được việc hoá giải có kết quả phải do các chuyên gia có khả năng về Năng lượng sinh học kết hợp với phong thuỷ và hiểu biết cơ bản về dịch học.
 Đề tài 11 “Nghiên cứu ứng dụng Dịch học kỹ thuật số và trắc nghiệm tại các cơ sở sản xuất kinh doanh”, do LY. Nguyễn Hồng Quang và cộng sự thực hiện.
    Từ lý thuyết Dịch học kỹ thuật số chuyển sang trắc nghiệm đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, có đối chiếu với những kinh nghiệm phong thuỷ. Thực hiện các giải pháp để giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh khắc phục những vướng mắc, doanh thu, lợi nhuận được nâng cao. Thực tế kiểm nghiệm cho thấy kết quả đạt được rất khả quan.
 Đề tài 12: “Nghiên cứu tác động của Năng lượng cảm xạ, Dịch lý đối với các trẻ em chậm phát triển, thực hiện tại cơ sở giáo dục Phúc Tuệ -Hà Nội”, do KS. Đỗ Trọng Khuê và cộng sự thực hiện. 
            Sau khi thực hiện các biện pháp tác động, hoá giải, nhóm cháu được tác động đều có biểu hiện tiến bộ tốt như tiếp thu nhanh sự dạy dỗ của các cô giáo so với nhóm cháu khác. Một số cháu giảm được những biểu hiện tự kỷ và động kinh. Một số cháu vì độ tuổi đã lớn, từ nhỏ không được xử lý kịp thời nên về nhận thức, tâm lý cần có sự dạy dỗ đặc biệt mới có thể hoà nhập vào cộng đồng.

 V.   KẾT LUẬN:
Trong gần 20  năm qua, các cán bộ của Bộ môn Năng lượng sinh học đã sát cánh cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác trong và ngoài đơn vị thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu , đã đem lại những đóng góp có giá trị vào các lĩnh vực  ứng dụng Năng lượng sinh học, Năng lượng cảm xạ và Dịch học. Đã thực hiện nhiều  nghiên cứu trắc nghiệm, tổng hợp nhiều báo cáo chuyên đề, đặc biệt đã chỉ đạo việc xây dựng các câu lạc bộ của Bộ môn trở thành các tổ chức hoạt động có hiệu quả. Có thể kể đến một số chuyên đề như: “Thư giãn với sức khỏe con người“ của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Kha; “Phục hồi sức khỏe bằng NLSH„ của Đại tá Lê Quang Ngọc  ở Xuân Mai ; “Thiền và Yoga Tây Tạng cho sức khỏe Thân và Tâm„ của cử nhân Trần Đức Hoài, “Sức mạnh vô thức“ của cử nhân Đoàn Thanh Hương.
Bộ môn Năng Lượng Sinh Học  đã góp phần xây dựng nền móng cho  công việc nghiên cứu Năng lượng sinh học ở Việt Nam. Từ những bước đi ban đầu  đầy khó khăn, vất vả, thiếu cán bộ nghiên cứu, thiếu kinh phí hoạt động, thiếu kinh nghiệm chuyên môn và biết bao thử thách với những quan điểm khác nhau trong xã hội, Bộ môn NLSH đã trưởng thành với một loạt các đề tài nghiên cứu có ý nghĩa, góp phần định hướng phát triển sự nghiệp bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và xã hội.
                                           TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Các báo cáo nghiệm thu đề tài thuộc lĩnh vực Năng lượng sinh học,  TT NCTN CN.
[2] Báo cáo của nhà thực hành Lê Quang Ngọc về phương pháp Tĩnh  tâm, nhất niệm.
[3] Bruno Groning – Cuộc cách mạng trong Y học (Hội Ái hữu Bruno Groning xuất bản)
[4] Đoàn Thanh Hương, Sức mạnh vô thức.



[1] PGS TS, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người
[2] Chủ nhiệm Bộ môn Năng lượng sinh học Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người